|
TÒA ÁN NHÂN DÂN H.CHÂU THÀNH-TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/DS-ST
Ngày: 28/02/2025
V/v tranh chấp: “hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Hiếu
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Trại
- Ông Tạ Công Minh
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Võ Trương Tấn Thành
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 539/2024/TLST-DS nầy 28 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ngô Văn N, sinh năm 1985
- Nguyễn Thị R, sinh năm 1984
- Cùng địa chỉ: tổ A, ấp L, xã Đ, G, Tiền Giang
- Người đại diện theo uỷ quyền: Trần Văn Đ, sinh năm 1982 (có mặt)
- Địa chỉ: ấp B, xã N, huyện T, Long An
- * Bị đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1962
- Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Kim T1, sinh năm 1985 (có mặt)
- Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, Tiền Giang
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Kim T1, sinh năm 1985 (có mặt)
- Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- * Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có anh Đ trình bày: vào ngày 30/5/2024 ông N, bà R có cho ông T mượn 100.000.000 đồng để nhập hàng hóa thuốc tây, thỏa thuận trả vào ngày 30/8/2024, lãi suất thỏa thuận miệng là 3%/tháng. Ông T có ủy quyền cho chị T1 là con của ông T nhận tiền thay nên ông N, bà R giao 100.000.000 đồng cho chị T1. Nay do đã hết thời hạn vay nên ông N, bà R yêu cầu ông T trả 100.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính là 3.320.000 đồng (100.000.000 đồng x 02 tháng x 1,66%).
- * Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn có chị T1 trình bày: do cần tiền trả nợ Ngân hàng ngày 18/02/2024 ba mẹ chị (ông T, bà T2) có ký hợp đồng yêu cầu cung cấp dịch vụ với Công ty TNHH T3. Theo đó, Công ty cho vay số tiền 4.500.000.000 đồng. Để được nhận số tiền vay phía Công ty có yêu cầu ông T, bà T2 nộp 55.000.000 đồng tạm ứng trước. Do ba mẹ chị không có tiền nên có mượn bà R 45.000.000 đồng (theo biên nhận ngày 18/02/2024), còn lại 10.000.000 đồng do gia đình bỏ tiền ra để đưa cho Công ty. Sau đó bà R yêu cầu ký biên nhận mượn tiền với số tiền 20.000.000 đồng, và 1 tiền phí của bà R làm hồ sơ cho ba mẹ chị.
- Sau đó bà R nói cần tiền để chạy nguồn thu nên yêu cầu ba mẹ chị ký giấy vay tiền 100.000.000 đồng vào ngày 30/5/2024, chữ ký và dấu lăn tay của chị và chữ ký phía sau biên nhận của ông T. Khi ký thì biên nhận không có ghi thời hạn trả nợ và không có dòng chữ phía sau biên nhận.
- Thực tế 03 biên nhận nêu trên gia đình chị không có nhận bất cứ số tiền nào và ông T không đồng ý toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: ngày 19/02/2025 chị T1 có đơn phản tố, xét thấy đơn phản tố này không phải do ông T đứng đơn và đơn này nộp sau ngày Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự không xem xét đơn của chị T1.
- Tại phiên tòa nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể rút yêu cầu đối với số tiền lãi 3.320.000 đồng. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.
- [2] Về nội dung: tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của ông N, bà R yêu cầu ông T trả 100.000.000 đồng vốn vay cho ông N, bà R.
Theo nguyên đơn trình bày, ngày 30/5/2024 ông N, bà R có cho ông T vay 100.000.000 đồng
Còn theo bị đơn trình bày, do bà R cần tiền để chạy nguồn thu nên yêu cầu ông T ký giấy vay tiền 100.000.000 đồng vào ngày 30/5/2024, chữ ký và dấu lăn tay của chị T1 và chữ ký phía sau biên nhận của ông T nhưng thực tế chị T1 không có nhận bất cứ số tiền nào của ông N, bà R.
Xét thấy, theo giấy giao nhận tiền thể hiện, ngày 30/5/2024 ông N, bà R có cho ông T mượn số tiền 100.000.000 đồng, mục đích để ông T nhập hàng hóa thuốc tây và mặt sau của giấy giao nhận tiền thể hiện ông T ủy quyền cho chị T1 nhận số tiền 100.000.000 đồng này.
Chị T1 thừa nhận chữ ký mặt sau của giấy giao nhận tiền đúng là của ông T và chữ ký tại bên nhận tiền, cuối giấy giao nhận tiền đúng là của chị T1 và chị T1 có ghi xác nhận “Nhận đủ 100.000.000₫ 30/5/2024”. Chứng cứ này thể hiện ông T có vay tiền của ông N, bà R và chị T1 là người được ông T ủy quyền nhận tiền, chị T1 đã nhận đủ 100.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị T1 cho rằng bà R yêu cầu ông T ký mục đích để bà R chạy nguồn thu chứ không có nhận tiền. Lời khai nại này của chị T1 không được bà R thừa nhận, ngoài ra ông T cũng không có chứng cứ gì chứng minh cho lời khai nại này cho nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét. Tại phiên tòa chị T1 thừa nhận có nhận 100.000.000 đồng từ ông N, bà R.
Nguyên đơn cho rằng sau khi hai bên ký giấy giao nhận tiền xong thì hai bên có thỏa thuận thời hạn trả nợ là ngày 30/8/2024 nên phía nguyên đơn ghi bổ sung ngày trả nợ vào giấy giao nhận tiền sau đó, bị đơn thì không thừa nhận có việc thỏa thuận thời hạn trả nợ này. Do đó xác định đây là hợp đồng vay không có kỳ hạn. Theo quy định tại Điều 469 Bộ luật dân sự thì đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý. Tại phiên tòa chị T1 thừa nhận trước ngày ông N bà R làm đơn khởi kiện ông T (đơn khởi kiện ngày 06/11/2024) thì trước đó vào ngày 25/7/2024 phía nguyên đơn đã có yêu cầu ông T trả tiền. Do đó, phía nguyên đơn không vi phạm quy định về việc báo trước.
Từ những chứng cứ trên đủ cơ sở xác định ông T có vay tiền của ông N, bà R. Nay ông N, bà R yêu cầu ông T trả 100.000.000 đồng là có căn cứ phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về án phí: ông T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 466 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ Điều 26; Điều 35; khoản 3 Điều 200; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn N, bà Nguyễn Thị R, về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T trả 3.320.000 đồng tiền lãi.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn N, bà Nguyễn Thị R.
Buộc ông Nguyễn Văn T trả cho ông Ngô Văn N, bà Nguyễn Thị R 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) tiền vốn vay.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí: ông T phải chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho ông N, bà R 2.583.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012158 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Ngọc Hiếu |
Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 17/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hợp đồng vay giữa Nhân-Tươi
