TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 17/2025/DS-ST
Ngày: 25-02-2025
Về việc: Tranh chấp hợp đồng
tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
2. Ông Nguyễn Thế Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 656/2024/TLST- DS ngày 02/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-DS ngày 09/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QÐST – DS ngày 06/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam)
Địa chỉ: A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H - Chức vụ: Tổng Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần La Ngọc H1 - Chức vụ: Trưởng phòng tố tụng (vắng mặt).
Uỷ quyền tham gia tố tụng cho: Công ty L1
Địa chỉ: Số B L, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Cồ Lê H2 - Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T - Nhân viên (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phúc L, sinh năm 1994
Địa chỉ: A đường Đ, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án người đại diện ủy quyền nguyên đơn ông Nguyễn Đức T trình bày:
Ngày 30/9/2022, Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty T1) và ông Nguyễn Phúc L ký hợp đồng tín dụng theo “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 3705947, nội dung Công ty T1 cho ông L vay số tiền 31.980.000 đồng, trong đó khoản vay là 30.000.000 đồng tiền vay và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay; lãi suất 3,25%/tháng tính theo dư nợ gốc trả giảm dần, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 36 tháng tính từ ngày 30/9/2022 đến ngày 09/10/2025. Hình thức vay tín chấp, không có tài sản bảo đảm.
Thực hiện hợp đồng, ngày 30/9/2022 Công ty T1 đã giải ngân cho ông L, bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng mà ông L cung cấp. Ông L có trách nhiệm thanh toán hàng tháng với số tiền 2.595.613 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 09/11/2022 đến ngày 09/10/2025.
Qua quá trình thực hiện hợp đồng, Ông L đã nhận đủ số tiền vay và thanh toán cho Công ty được 1 kỳ với tổng số tiền: 1.025.112 đồng. Kể từ ngày 19/5/2023 đến nay ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Công ty đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông L không thanh toán thêm khoản tiền nào.
Tính đến ngày 25/02/2025, ông L còn nợ các khoản tiền sau:
Nợ gốc: 31.980.000 đồng.
Nợ lãi trong hạn: 26.940.143 đồng.
Nợ lãi quá hạn: 2.642.601 đồng
Lãi phạt: 3.223.150 đồng.
Tổng cộng cả gốc và lãi tính đến ngày 25/02/2025 là 64.785.894 đồng.
Nay Công ty T1 khởi kiện yêu cầu ông L thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 25/02/2025 là 64.785.894 đồng.
Yêu cầu ông L tiếp tục thanh toán các khoản tiền lãi và phí phát sinh tính từ ngày 26/02/2025 cho đến khi Công ty T1 thu hồi hết nợ.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Phúc L:
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn ông Nguyễn Phúc L theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên ông L không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Vì vậy Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng để xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70,71 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70,72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông L phải thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký với Công ty T1, cụ thể khoản nợ tính đến ngày 25/02/2025 là 64.785.894 đồng. Buộc ông L tiếp tục thanh toán các khoản tiền lãi và phí phát sinh tính từ ngày 26/02/2025 cho đến khi Công ty T1 thu hồi hết nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải đóng án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Giấy Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3705947 ngày 30/9/2022 được ký kết giữa Công ty T1 và ông Nguyễn Phúc L với mục đích vay tiêu dùng cá nhân, nay có phát sinh tranh chấp nên Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn ông Nguyễn Phúc L cư trú tại A đường Đ, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và trong thời hạn khởi kiện.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đức T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Phúc L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]. Nội dung:
[2.1]. Xét tính pháp lý của hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên:
Công ty T1 là một tổ chức tín dụng nên tổ chức và hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng. Công ty T1 ký kết Hợp đồng tín dụng theo “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 3705947 ngày 30/9/2022 với ông Nguyễn Phúc L là phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng tín dụng được ký kết dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái quy định hay vi phạm điều cấm của pháp luật nên có hiệu lực thi hành.
[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
Căn cứ hợp đồng tín dụng các bên đã ký xác định, số tiền Công ty T1 cho Ông L vay là 31.980.000 đồng, lãi suất 3,25%/tháng tính theo dư nợ gốc trả giảm dần, hình thức vay tín chấp, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 36 tháng, hình thức thanh toán trả góp hàng tháng vào ngày 09 hàng tháng tính từ ngày 09/10/2022 đến ngày 09/10/2025, mỗi kỳ thanh toán số tiền 2.595.613 đồng.
Thực hiện hợp đồng ông L đã nhận đủ số tiền vay đồng thời thanh toán cho Công ty được tổng số tiền 1.025.112 đồng. Từ ngày 19/5/2023 đến nay ông L không tiếp tục thanh toán nợ cho Công ty T1.
Theo yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 xác định tính đến ngày 25/02/2025 ông L còn nợ Công ty T1 số tiền gốc là 31.980.000 đồng.
Xét yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu ông L cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh quá trình vay và thanh toán của mình, tuy nhiên ông L từ chối tham gia tố tụng, không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Trong trường hợp này bị đơn được xem là cố tình vắng mặt nhằm từ chối thực hiện nghĩa vụ đối với nguyên đơn theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký.
Việc ông L không thanh toán nợ đúng hạn là vi phạm thoả thuận tại Mục 8 của “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 3705947. Nên căn cứ vào quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự cần buộc ông L phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T1 số tiền nợ gốc là 31.980.000 đồng.
Xét yêu cầu thanh toán tiền lãi: Công ty T1 xác định tính đến ngày 25/02/2025 ông L còn nợ Công ty Mirae Asset số tiền lãi 32.805.894 đồng gồm:
Nợ lãi trong hạn: 26.940.143 đồng.
Nợ lãi quá hạn: 2.642.601 đồng
Lãi phạt: 3.223.150 đồng.
Tại Khoản 2 Điều 100 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và khoản 1, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC quy định: “1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất. 2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất.”
Như vậy lãi suất trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng được áp dụng theo cơ chế tự thỏa thuận, miễn không chạm mức lãi suất do pháp luật hình sự cấm thì đều được công nhận. Do đó lãi suất trong hạn theo thoả thuận của các bên tại Mục 3.7 của “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 3705947 với mức 3,25%/tháng là phù hợp. Việc ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngoài việc thanh toán nợ gốc và lãi trong hạn còn phải thanh toán lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả theo thoả thuận tại Mục 8.3 của “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 3705947 là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cần buộc ông L phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi phát sinh tính đến ngày 25/02/2025 cho Công ty T1 là 32.805.894 đồng.
Ông L phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán các khoản tiền lãi và phí phát sinh tính từ ngày 26/02/2025 theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi Công ty T1 thu hồi hết nợ.
Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cần buộc ông L thanh toán cho Công ty T1 số tiền nợ tính đến ngày 25/02/2025 là 64.785.894 đồng, trong đó: nợ gốc: 31.980.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 26.940.143 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.642.601 đồng và lãi phạt: 3.223.150 đồng.
[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên cần buộc bị đơn ông Nguyễn Phúc L phải đóng án phí dân sự sơ thẩm là 64.785.894 đồng x 5% = 3.239.295 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Điều 11, Điều 24 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N;
Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu toàn bộ cầu khởi kiện của Công ty T1 (Việt Nam) đối với ông Nguyễn Phúc L về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”;
Buộc ông Nguyễn Phúc L thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền nợ tính đến ngày 25/02/2025 là 64.785.894₫ (sáu mươi bốn triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi bốn đồng), trong đó gồm tiền nợ gốc là 26.650.000đ (hai mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); nợ lãi trong hạn là 26.940.143đ (hai mươi sáu triệu chín trăm bốn mươi nghìn một trăm bốn mươi ba đồng); nợ lãi quá hạn là 2.642.601đ (hai triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn sáu lẻ một đồng) và lãi phạt là 3.223.150đ (ba triệu hai trăm hai mươi ba nghìn một trăm năm mươi đồng).
Ông Nguyễn Phúc L có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán tiền lãi và phí phát sinh kể từ ngày 26/02/2025 theo “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 3705947 từ ngày 30/9/2022 cho đến khi Công ty T1 (Việt Nam) thu hồi hết nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Phúc L phải nộp số tiền 3.239.295₫ (ba triệu hai trăm ba mươi chín nghìn hai trăm chín mươi lăm đồng).
H3 lại cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền 1.343.000đ (Một triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số số 0004174 ngày 29/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
3. Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Thu Hiền |
Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 17/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty T2 - Nguyễn Phúc L tranh chấp tín dụng
