|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2025/DS-ST Ngày 14-02-2025 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Quí Quốc.
- Bà Lê Thị Thu Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: Bà Đặng Kiều My - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 536/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 343/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Trúc M, sinh năm 1963.
Địa chỉ: số F, đường Đ, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1977 (có mặt).
Địa chỉ: số A, đường P, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, theo văn bản ủy quyền ngày 25/10/2024.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Bích P, sinh năm 1965 (có mặt).
Địa chỉ: số A, đường L, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 28/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Trúc M là bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:
Bà Lê Thị Trúc M là hụi viên có tham gia góp nhiều dây hụi do bà Lê Thị Bích P làm chủ hụi, cụ thể:
- Dây hụi khui ngày 20/11/2022, hụi tháng, gồm 22 phần, mỗi phần 5.000.000 đồng. Trong dây hụi này bà M tham gia 02 phần, bà M đóng hụi đến kỳ thứ 20 sang kỳ hụi thứ 21 thì hốt hụi nhưng bà P không giao tiền hụi cho bà M. Trong dây hụi này bà P nợ bà M số tiền 5.000.000 đồng/phần x 20 kỳ x 02 phần – (huê hồng 2.500.000 đồng x 02 phần) = 195.000.000 đồng.
- Dây hụi khui ngày 15/8/2023, hụi tháng, gồm 22 phần, mỗi phần 5.000.000 đồng (hụi sống đóng 4.000.000 đồng/phần). Trong dây hụi này bà M tham gia 03 phần, bà M đóng hụi đến kỳ thứ 12 sang kỳ hụi thứ 13 thì bà P ngưng hụi. Trong dây hụi này bà P nợ bà M số tiền 4.000.000 đồng/phần x 12 kỳ x 03 phần – (huê hồng 2.500.000 đồng x 02 phần) = 144.000.000 đồng.
Ngoài ra ngày 25/10/2023 bà M có mua của bà P 01 phần hụi 2.000.000 đồng, dây hụi này gồm 22 phần, giá mua hụi là 38.600.000 đồng. Khi mua hụi bà P có viết giấy bán hụi và cam kết khi hốt hụi sẽ giao đủ 22 phần hụi cho bà. Trong dây hụi này bà P còn nợ bà M số tiền 2.000.000 đồng/phần x 22 phần – huê hồng 1.000.000 đồng = 43.000.000 đồng.
Ngày 19/10/2024 bà P đã viết giấy chốt hụi cho bà M với tổng số tiền là 382.000.000 đồng. Bà M đã nhiều lần yêu cầu bà P trả lại cho bà M tổng số tiền hụi còn nợ nhưng bà P không thực hiện.
Bà Lê Thị Trúc M yêu cầu bà Lê Thị Bích P trả cho bà số tiền hụi là 382.000.000 đồng, yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập cho bị đơn bà Lê Thị Bích P nhưng bà P không có văn bản trình bày ý kiến và không đến Tòa án tham gia phiên họp họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, đồng ý cấn trừ số tiền nợ hụi 50.000.000 đồng bị đơn đã trả vào ngày 27/01/2025 và không yêu cầu tiền lãi của phần hụi mua ngày 25/10/2023, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ hụi còn lại là 327.600.000 đồng. Bị đơn thống nhất số tiền hụi còn nợ như nguyên đơn trình bày là 327.600.000 đồng, bị đơn đề nghị chỉ trả số tiền vốn là 300.000.000 đồng do hoàn cảnh hiện tại khó khăn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Lê Thị Trúc M yêu cầu bà Lê Thị Bích P trả cho bà số tiền hụi là 327.600.000 đồng. Ngoài ra các đương sự không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Lê Thị Bích P cư trú tại số A, đường L, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của bà Lê Thị Trúc M yêu cầu bà Lê Thị Bích P trả cho bà số tiền hụi là 327.600.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đối với dây hụi khui ngày 20/11/2022, theo Giấy hụi ngày 20/11/2022 do nguyên đơn bà Lê Thị Trúc M cung cấp (bút lục 15, 16) thể hiện nội dung:
“Chị Trúc M TC 22P
chơi hụi 5.000.000
chơi 2 phần...”
Bà M đã giao cho bà P 20 kỳ hụi, mỗi kỳ 8.000.000 đồng. Tại phần chủ hụi bà Lê Thị Bích P có ký tên và ghi rõ họ tên.
Đối với dây hụi khui ngày 15/8/2023, theo Giấy hụi ngày 15/8/2023 do nguyên đơn bà Lê Thị Trúc M cung cấp (bút lục 17 - 20) thể hiện nội dung:
“15/8/2023 chị M hụi 5.000.000 TC 22P chị chơi 3 phần...”.
Bà M đã giao cho bà P 12 kỳ hụi, mỗi kỳ 12.000.000 đồng. Tại phần chủ hụi bà Lê Thị Bích P có ký tên và ghi rõ họ tên.
Đối với phần hụi bà M mua từ bà P, theo Giấy mua hụi ngày 25/10/2023 do nguyên đơn bà Lê Thị Trúc M cung cấp (bút lục 14) thể hiện nội dung:
“Chị Trúc M (mua hụi 2.000.000) TC 22P
Chết 11P x 2.000.000 = 22.000.000
Sống 11P x 1.600.000 = 17.600.000
39.600.000
Hoa hồng1.000.000
38.600.000
Hốt lại giao đủ 22P”.
Bà M đã giao cho bà P 38.600.000 đồng tiền mua hụi. Cuối giấy mua hụi bà Lê Thị Bích P có ký tên và ghi rõ họ tên.
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Trúc M và bị đơn Lê Thị Bích P thống nhất bà M có tham gia các dây hụi do bà P làm chủ hụi theo Giấy hụi ngày 20/11/2022, Giấy hụi ngày 15/8/2023, Giấy mua hụi ngày 25/10/2023. Đây là sự việc các bên đương sự thống nhất thừa nhận, căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định giữa bà Lê Thị Trúc M và bà Lê Thị Bích P có xác lập giao dịch góp hụi đối với dây hụi khui ngày 20/11/2022, dây hụi khui ngày 15/8/2023 và phần hụi mua ngày 25/10/2023.
Khi các dây hụi chưa kết thúc thì bà P tuyên bố vỡ hụi, hai bên tổng kết số tiền nợ hụi bà P còn nợ bà M là 195.000.000 đồng + 144.000.000 đồng + 43.000.000 đồng = 382.000.000 đồng. Ngày 27/01/2025 bà P trả cho bà M số tiền 50.000.000 đồng, bà M không yêu cầu tiền lãi của phần hụi mua ngày 25/10/2023 nên số tiền nợ hụi còn lại là:
(195.000.000 đồng + 144.000.000 đồng + 38.600.000 đồng) – 50.000.000 đồng = 327.600.000 đồng.
Đến nay bà P vẫn không thanh toán số tiền hụi còn nợ cho bà M, do đó bà M khởi kiện yêu cầu bà P thanh toán toàn bộ số tiền hụi còn nợ của 03 dây hụi là 327.600.000 đồng là phù hợp quy định tại các Điều 15, Điều 18 và Điều 23 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn bà P đề nghị chỉ trả số tiền vốn là 300.000.000 đồng do hoàn cảnh hiện tại khó khăn nhưng không được nguyên đơn bà M chấp nhận nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
[3] Về án phí: Bị đơn bà Lê Thị Bích P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu được chấp nhận của nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội là 16.380.000 đồng.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 271; Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 468 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Trúc M.
Buộc bà Lê Thị Bích P có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Trúc M số tiền hụi còn nợ là 327.600.000 đồng (Ba trăm hai mươi bảy triệu sáu trăm nghìn đồng), trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Về án phí: Bà Lê Thị Bích P phải chịu 16.380.000 đồng (Mười sáu triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Trúc M, bà Lê Thị Bích P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Kiều |
Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 17/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
