Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/DS-ST

Ngày: 16/4/2025

V/v“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Phạm Phước Cường;
  • + Bà Ngô Thị Lệ Thi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 659/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2025, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B); trụ sở chính: số A T, Phường L, Quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Chí T1 - chức vụ: chuyên viên quản lý nợ có vấn đề – Ngân hàng TMCP Đ – chi nhánh B1 (Giấy ủy quyền số 1534/GUQ-BIDV.BAG ngày 30/10/2024).

Bị đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1963; địa chỉ: tổ B, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.

Đại diện theo ủy quyền của B và bà N vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 26/9/2018, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (đơn vị trực tiếp quản lý khách hàng: chi nhánh Ngân hàng TMCP Đ – phòng G) và bà Trần Thị N đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9196048/HĐTD, vay số tiền 140.000.000 đồng, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống (mua sắm vật dụng, trang thiết bị gia đình), thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 11,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Để đảm bảo khoản vay, bà Trần Thị N đã thế chấp tài sản cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/9196048/HĐBĐ ngày 26/9/2018 giữa bà Trần Thị N với Ngân hàng TMCP Đ, gồm: Thửa đất số 8, tờ bản đồ số 28, địa chỉ: Hẻm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang, diện tích 93,9 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền số CE 172951 (số vào số cấp GCN CS03186) cấp ngày 14/10/2016 do bà Trần Thị N đứng tên.

Quá trình thực hiện hợp đồng từ tháng 9/2018 đến tháng 7/2021 bà Trần Thị N trả đầy đủ gốc và lãi; từ kỳ trả nợ tháng 8/2021 trở đi, bà Trần Thị N không thanh toán gốc, lãi đến hạn. Đến hết ngày 23/10/2024 các khoản vay của bà N đã quá hạn gốc và lãi, phát sinh lãi phạt cho gốc và lãi chậm trả lãi. Ngân hàng đã gửi nhiều thông báo yêu cầu bà N thanh toán nợ nhưng phía bà N vẫn không thực hiện. Vì vậy, B khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị N thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B, khoản nợ tạm tính đến hết ngày 25/10/2024 là 31.469.378 đồng (trong đó, nợ gốc 13.650.000 đồng; lãi trong hạn 13.456.540 đồng, lãi quá hạn 2.859.904 đồng, lãi chậm trả lãi 1.502.934 đồng) và toàn bộ lãi phát sinh sau ngày 25/10/2024 với lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9196048/HĐTD ngày 26/9/2018 cho đến khi trả hết nợ cho B; trường hợp bà Trần Thị N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì B có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 01/2018/9196048/HĐBĐ ngày 26/9/2018 đã ký.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị N có trả vốn gốc được 2.000.000 đồng (ngày 18/3/2025), hiện còn nợ lại vốn gốc 11.650.000 đồng. Do đó, yêu cầu bà Trần Thị N trả số tiền vốn, lãi còn lại tính đến hết ngày 15/4/2025 là 31.062.475 đồng (trong đó, nợ gốc 11.650.000 đồng, lãi trong hạn 14.083.383, lãi quá hạn 3.173.310 đồng, lãi chậm trả lãi: 2.155.782 đồng); toàn bộ số tiền lãi phát sinh từ ngày 16/4/2025 với lãi suất, lãi phạt và phí (nếu có) theo Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng cho đến khi bà Trần Thị N thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng; Yêu cầu bà Trần Thị N hoàn trả lại các tạm ứng chi phí tố tụng cho B và chịu án phí theo quy định pháp luật; trường hợp bà Trần Thị N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì B có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đã ký.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9196048/HĐTD ngày 26/9/2018; Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/9196048/HĐBĐ ngày 26/9/2018; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 172951 (số vào sổ cấp GCN CS03186) cấp ngày 14/10/2016 do bà Trần Thị N đứng tên, đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất ngày 26/9/2018, bảng kê rút vốn ngày 28/9/2018 và các giấy tờ, tài liệu khác có liên quan.

- Tại biên bản ghi lời khai bà Trần Thị N ngày 20/12/2024 và ngày 26/12/2024 trình bày: Xác định có ký Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9196048/HĐTD ngày 26/9/2018 với B vay số tiền 140.000.000 đồng, mục đích vay, lãi suất và thời hạn vay như Hợp đồng tín dụng đã thể hiện. Xác định tính đến ngày 25/10/2024 còn nợ lại số tiền 31.469.378 đồng (trong đó, nợ gốc 13.650.000 đồng; lãi trong hạn 13.456.540 đồng, lãi quá hạn 2.859.904 đồng, lãi chậm trả lãi 1.502.934 đồng). Để đảm bảo khoản vay bà Trần Thị N có ký hợp đồng thế chấp phần đất diện tích 93,9m², thửa đất 8, tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại hẻm S, thị trấn T, huyện T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03186 do Sở T2 cấp ngày 14/01/2016.

Hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng trả 2.000.000 đồng (bao gồm gốc lãi), thời hạn trả 20/01/2025. Đồng ý chịu khoản tiền lãi phát sinh sau ngày 25/10/2024 với lãi suất, lãi phạt và phí theo hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng. Nếu bà N không trả hoặc trả không đầy đủ cho Ngân hàng thì đồng ý phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo thi hành án.

Do nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

- Chủ tọa công bố lại lời khai của nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, lời khai của bị đơn cùng các tài liệu chứng cứ khác.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Thỏa thuận vay nợ được xác lập giữa Ngân hàng với bà N trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà N trả số tiền vốn và lãi còn nợ tính đến ngày 15/4/2025 là 31.062.475 đồng (trong đó, nợ gốc 11.650.000 đồng, lãi trong hạn 14.083.383, lãi quá hạn 3.173.310 đồng, lãi chậm trả lãi: 2.155.782 đồng) là có căn cứ chấp nhận.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật bà N không thanh toán đầy đủ khoản nợ

cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm thu hồi nợ

Đối với việc bà N xin trả dần không được Ngân hàng đồng ý, nên không có cở sở xem xét.

Căn cứ quy định tại các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Trần Thị N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đ (B) tính đến ngày 15/4/2025 là 31.062.475 đồng. Đồng thời, bà N phải trả lãi phát sinh từ ngày 16/4/2025 với lãi suất, lãi phạt, phí (nếu có) theo hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng cho đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị N trả nợ vay. Bà N đang cư trú tại tổ B, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang nhưng tại mục 10 Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9196048/HĐTD ngày 26/9/2018 các bên thỏa thuận thống nhất Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc giải quyết tranh chấp. Do đó, yêu cầu kiện của B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn bà Trần Thị N có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

* Về nội dung:

[3] Về Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9196048/HĐTD ngày 26/9/2018 giữa B (đơn vị đại diện quản lý khách hàng: Ngân hàng TMCP Đ – Phòng G) với bà Trần Thị N được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được ký kết.

[4] Về vốn vay, tiền lãi và trách nhiệm trả nợ:

Trên cơ sở Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9196048/HĐTD ngày 26/9/2018, bà Trần Thị N được Ngân hàng TMCP Đ – PGD T giải ngân số tiền 140.000.000 đồng thể hiện qua bảng kê rút vốn ngày 28/9/2018.

Theo lời trình bày của đại diện Ngân hàng, sau khi vay bà Trần Thị N thực hiện đóng vốn lãi đầy đủ từ tháng 9/2018 đến tháng 7/2021, đến tháng 8/2021 thì không thanh toán gốc, lãi đến hạn. Đến ngày 23/10/2024 khoản vay đã bị quá hạn gốc và lãi, phát sinh lãi phạt cho gốc và lãi chậm trả. Quá trình giải quyết vụ án, bà N có trả vốn gốc được 2.000.000 đồng, tính đến ngày 15/4/2025 bà Trần Thị N còn nợ gốc, lãi là 31.062.457 đồng (trong đó, nợ gốc 11.650.000 đồng, lãi trong hạn 14.083.383, lãi quá hạn 3.173.310 đồng, lãi chậm trả lãi: 2.155.782 đồng).

Bà Trần Thị N xác định có ký Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9196048/HĐTD ngày 26/9/2018 với B, quá trình vay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Xét, giữa B và bà Trần Thị N có giao kết hợp đồng tín dụng để bà N vay tiền. Quá trình vay do bà N không thực hiện việc trả nợ gốc, lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, việc B khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị N có trách nhiệm trả số nợ gốc, lãi còn lại cho Ngân hàng tính đến ngày 15/4/2025 là 31.062.457 đồng (trong đó, nợ gốc 11.650.000 đồng, lãi trong hạn 14.083.383, lãi quá hạn 3.173.310 đồng, lãi chậm trả lãi: 2.155.782 đồng) và toàn bộ lãi vay phát sinh từ ngày 16/4/2025 với lãi suất, lãi phạt và phí (nếu có) theo Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng cho đến khi bà Trần Thị N thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100 và Điều 103 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B): Buộc bà Trần Thị N có trách nhiệm trả số nợ gốc, lãi còn lại cho B tính đến ngày 15/4/2025 là 31.062.457 đồng (trong đó, nợ gốc 11.650.000 đồng, lãi trong hạn 14.083.383, lãi quá hạn 3.173.310 đồng, lãi chậm trả lãi: 2.155.782 đồng) và toàn bộ lãi vay phát sinh từ ngày 16/4/2025 với lãi suất, lãi phạt và phí (nếu có) theo Hợp đồng tín dụng đã ký với B cho đến khi bà Trần Thị N thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho B.

[5] Về phương thức thanh toán: Bà Trần Thị N xin trả dần số nợ còn lại mỗi tháng trả 2.000.000 đồng cho đến khi dứt hết nhưng không được phía B đồng ý nên không có căn cứ để xem xét.

[6] Về Hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/9196048/HĐBĐ ngày 26/9/2018 được công chứng, chứng thực tại Văn phòng C (số E Quốc lộ I, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang) và đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 26/9/2018 tại Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh T3, tỉnh An Giang phù hợp với quy định pháp luật nên làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Bà Trần Thị N thống nhất phát mãi tài sản thế chấp nếu không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ còn lại cho B. Do đó, khi bản án có hiệu lực pháp luật bà N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số

01/2018/9196048/HĐBĐ ngày 26/9/2018 giữa bà Trần Thị N với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (đơn vị trực tiếp quản lý khách hàng: chi nhánh Ngân hàng TMCP Đ – phòng G) để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán nợ.

[7] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình tố tụng, phát sinh chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là 1.000.000 đồng, B đã nộp tạm ứng số tiền này. Yêu cầu khởi kiện của B được chấp nhận nên bà Trần Thị N phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại các Điều 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự, buộc bà Trần Thị N hoàn trả lại cho B số tiền 1.000.000 đồng.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

Bà Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho B là 1.553.123 đồng, làm tròn số 1.553.500 đồng.

B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho B số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

B và bà Trần Thị N có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 147, 157, 158, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 100 và 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B).

    Buộc bà Trần Thị N trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) số tiền gốc, lãi còn lại tính đến ngày 15/4/2025 là 31.062.475 đồng (trong đó, nợ gốc 11.650.000 đồng, lãi trong hạn 14.083.383 đồng, lãi quá hạn 3.173.310 đồng, lãi chậm trả lãi: 2.155.782 đồng).

    Kể từ ngày 16/4/2025, bà Trần Thị N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 01/2018/9196048/HĐTD ngày 26/9/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của B thì lãi suất mà bà N vay phải tiếp tục thanh toán cho B theo quyết

định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của B.

Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền bất động sản số 01/2028/9196048 ngày 26/9/2018 giữa B với bà Trần Thị N để thu hồi nợ.

  1. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị N có trách nhiệm hoàn trả cho B số tiền 1.000.000 đồng (chi phí xem xét thẩm định tại chỗ).
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

    Bà Trần Thị N phải chịu 1.553.500 đồng đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 787.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0004222 ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

    Thời hạn kháng cáo của B và bà Trần Thị N là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 17/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DS BIDV - NGA
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger