|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/DS-ST
Ngày 04/04/2025
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU- TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trường Hận
- Bà Khưu Liên Dung
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 460/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân Hàng Thương mại Cổ phần S. Địa chỉ: 2 N, Phường V, Quận C,Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D-Tổng Giám Đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu P, Trưởng Phòng G (Theo QĐ số 3525/2023/QĐ-PC của Tổng Giám Đốc Ngân hàng TMCP S “V/v ủy quyền kí hợp đồng/ thỏa thuận, băn bản và tham gia tố tụng”).
Bị đơn: Bà Đặng Tuyết M, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khóm A, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Ông P và bà M vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 23/01/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 26/10/2017, bà Đặng Tuyết M và Ngân hàng TMCP S có ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ thu nhập của bà Đặng Tuyết M, ngày 26/10/2017 Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 39.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 876.771.047 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 01/5/2023, bà t M1 thanh toán cho Ngân hàng số tiền 841.211.753 đồng, tính đến ngày 28/3/2025, bà t M còn nợ lại Ngân hàng số tiền là 84.370.018 đồng gồm nợ gốc là 42.929.060 đồng và nợ lãi là 41.440.958 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu bà Đặng Tuyết M phải trả Ngân hàng số tiền là 84.370.018 đồng gồm nợ gốc là 42.929.060 đồng, nợ lãi là 41.440.958 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo theo hợp đồng đã ký cho đến khi trả hết nợ. Không có yêu cầu gì khác.
Theo bị đơn bà Đặng Tuyết M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp, phiên hòa giải nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến được.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì. Nguyên đơn có yêu cầu xin xét xử vắng mặt và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bà Đặng Tuyết M về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Buộc bà Đặng Tuyết M thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền là 84.370.018 đồng gồm nợ gốc là 42.929.060 đồng và nợ lãi là 41.440.958 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo theo hợp đồng đã ký cho đến khi trả hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đây là tranh chấp dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn bà Đặng Tuyết M có địa chỉ tại Số D P, khóm B, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Nguyên đơn có yêu cầu xin xét xử vắng mặt và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án xét thấy: Căn cứ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với số thẻ 472075-4054 loại thẻ Visa ngày 26/10/2017 được ký kết giữa bà Đặng Tuyết M với Ngân hàng thương mại cổ phần S, giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của bà Đặng Tuyết M, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 26/10/2017, bà Đặng Tuyết M với Ngân hàng thương mại cổ phần S có ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/10/2017, số tiền hạn mức là 39.000.000 đồng; Mục đích vay: vay tiêu dùng cá nhân; lãi suất tại thời điểm làm thẻ: 2,77%/tháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà t M đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 876.771.047 đồng và tính đến ngày 01/5/2023, bà t M1 thanh toán cho Ngân hàng số tiền 841.211.753 đồng. Do bà t M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Nay bà t M còn nợ lại Ngân hàng số tiền là 84.370.018 đồng gồm nợ gốc là 42.929.060 đồng và nợ lãi là 41.440.958 đồng.
Như vậy, Hợp đồng tín dụng được xác lập và thoả thuận trên cơ sở tự nguyện của hai bên, không trái quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử công nhận hợp pháp. Bị đơn đã được nguyên đơn cấp hạn mức sử dụng thẻ là 39.000.000 đồng và vi phạm thời hạn thanh toán nên việc nguyên đơn thông báo thu hồi quyền sử dụng thẻ và áp dụng mức lãi suất quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng.
Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn tổng số tiền tạm tính đến ngày 28/3/2025 là 84.370.018 đồng gồm nợ gốc là 42.929.060 đồng và nợ lãi quá hạn là 41.440.958 đồng và nợ lãi tiếp tục phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi bị đơn hoàn tất nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đối với nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận
[3] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa.
[4] Về án phí: Bà Đặng Tuyết M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 84.370.018 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 4.218.500 đồng. Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã nộp 1.448.748 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0009107 ngày 31/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, được hoàn lại toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- - Điều 100; Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
- - Điều 429; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với bà Đặng Tuyết M.
- - Buộc bà Đặng Tuyết M có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền là 84.370.018 đồng gồm nợ gốc là 42.929.060 đồng và nợ lãi quá hạn là 41.440.958 đồng.
- - Kể từ ngày 29/3/2025, bà Đặng Tuyết M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng không số ngày 26/10/2017 được ký kết giữa bà Đặng Tuyết M với Ngân hàng thương mại cổ phần S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng đã ký các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí:
- - Buộc bà Đặng Tuyết M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 4.218.500 đồng.
- - Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí, Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã nộp 1.448.748 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0009107 ngày 31/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, được hoàn lại toàn bộ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hồng Trinh |
Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU - TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 17/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU - TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NHTMCP S với Đặng Tuyết M
