|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/DSST
Ngày: 25/7/2024
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Trường Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Hà Giang, bà Nguyễn Thị Phi Yến.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thoả. Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Xét xử sở thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2023/TLST- DS, ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48 /2024/QĐXXST-DS, ngày 17/7/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P ( Viết tắt là O)
Địa chỉ: Số D và D, đường L, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người được ông Trịnh Văn T uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Đức T1. Chức vụ: Giám đốc phòng G.
Người được ông Trịnh Văn T uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1984. Chuyên viên xử lý nợ của Ngân hàng TMCP P. Địa chỉ: Số G, đường L, phường H, Thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
2. Bị đơn: ông Lô Văn T2, sinh năm 1980. Địa chỉ: Bản N ( Nay là bản B), xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà.
Bà Cụt Thị B, sinh năm 1977; Địa chỉ: Bản N ( N là bản B), xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn, trình bày như sau:
Ngân hàng TMCP P với ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ sau để vay vốn tại OCB chi tiết như sau:
Hợp đồng tín dụng số 0289/2020/HĐTD-OCB-CN ngày 28/09/2020 và Khế ước nhận nợ số 0289.01/2020/KUNN-OCB-CN ngày 29/09/2020 với các thoả thuận sau:
- + Số tiền vay: 350.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm năm mươi triệu đồng);
- + Mục đích vay: Tiêu dùng
- + Thời hạn vay : 120 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.
-
+ Lãi suất vay và phương pháp tính lãi:
-
Lãi suất vay trong hạn:
Trong 03 tháng đầu: Lãi suất vay 10.5%/năm. Từ tháng thứ 04 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/ lần
- Tiền lãi được tính trên cơ sở một năm có 365 ngày.
- Số tiền lãi phải trả = (Số dư nợ thực tế tính lãi) x (Số ngày thực tế của kỳ tính lãi) x (Lãi suất(%năm)) : 365
- Tiền lãi được tính từ ngày giải ngân khoản cấp tín dụng hoặc ngày tiếp theo ngày giải ngân khoản cấp tín dụng theo lựa chọn của O phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành
- Lãi suất cho vay được điều chỉnh theo thỏa thuận tại Khế ước nhận nợ. OCB được quyền ấn định lãi suất cho vay tại Khế ước nhận nợ cho các Kỳ điều chỉnh lãi suất khi xảy ra sự kiện biến động thị trường dẫn đến (i) lãi suất cho vay sau khi điều chỉnh thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu theo quy định pháp luật, quy định của Ngân hàng N1 (ii) không tồn tại hoặc không thể xác định được lãi suất cơ sở, lãi suất tham chiếu để điều chỉnh lãi suất theo thỏa thuận tại Khế ước nhận nợ.
-
Lãi suất vay trong hạn:
- Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên bao gồm:
Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0289/2020/BĐ ngày 28/09/2020 ký giữa ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B với OCB thì tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên bao gồm:
-
+ Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 335977, số vào sổ cấp GCN: CH00551 do UBND huyện T cấp ngày 13/04/2015 cho ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B, cụ thể như sau:
-Thửa đất số: 69; Tờ bản đồ số: 78; Địa chỉ thửa đất: Bản N, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Diện tích: 1320 m2.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng số 0289/2020/HĐTD-OCB-CN ngày 28/09/2020 và Khế ước nhận nợ số 0289.01/2020/KUNN-OCB-CN ngày 29/09/2020.
Trong quá trình thanh toán các khoản nợ trên thì vợ chồng anh Lô Văn T2 và chị Cụt Thị B đã thanh toán được cho Ngân hàng TMCP P số tiền 120.368.354 đồng. Trong đó thanh toán nợ gốc là 58.200.000 đồng, tiền lãi trong hạn 382.994 đồng và tiền lãi quá hạn là 61.785.360 đồng.
Tính đến ngày 26/7/2024, dư nợ của ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B là:
| + Nợ gốc trong hạn : | 291.800.000 đồng; |
| + Nợ lãi trong hạn: | 681.935 đồng; |
| + Nợ lãi quá hạn: | 102.902.924 đồng; |
| + Tổng cộng: | 395.384.859 đồng |
Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến nay ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B vẫn không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng. Vì vậy, ông T2 và bà B đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các cam kết đã ký kết với Ngân hàng TMCP P (O).
Nay Ngân hàng yêu cầu ông T2, bà B trả tổng số tiền 395.384.859 đồng. Nếu không trả thì xử lý tài sản đã thế chấp và trả tiền lãi suất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra Ngân hàng không có yêu cầu gì thêm.
Ý kiến của bị đơn bà Cụt Thị B trình bày:
Bà và ông Lô Văn T2 là vợ chồng.Vào năm 2020 gia đình bà có vay Ngân hàng TMCP P số tiền 350.000.000 đồng với mục đích kinh doanh. Khi ký kết Hợp đồng vay thì giữa vợ chồng bà với Ngân hàng TMCP P có ký kết Hợp đồng vay với thời hạn vay là như nào thì bà không nhớ nữa. Sau khi vay số tiền trên do hoàn cảnh khó khăn cho nên hiện nay vợ chồng bà mới chỉ trả được cho Ngân Hàng TMCP P số tiền chia làm nhiều lần, có lần khoảng 6.000.000 đồng lúc thì 5.000.000 đồng và đã trả được bao nhiêu thì bà không nhớ rõ. Sau đó do gặp phải hoàn cảnh khó khăn cho nên số tiền còn lại vợ chồng chưa thanh toán cho Ngân hàng theo thoả thuận.
Hiện nay Ngân hàng TMCP P yêu cầu vợ chồng bà thanh toán số tiền gốc là 291.800.000 đồng thì bà nhất trí. Còn số tiền lãi thì bà có nguyện xọng xin Ngân hàng TMCP P xem xét giảm một phần lãi suất cho gia đình bà.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung: đề nghị Tòa án, xử: Buộc vợ chồng anh Lô Văn T2 và chị Cụt Thị B liên đới chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP P ( O) số tiền gốc là 291.800.000 đồng và tiền lãi tính theo quy định. Đồng thời duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0289/2020/BĐ ngày 28/09/2020 đã ký giữa ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B với Ngân hàng TMCP P để đảm bảo thi hành án.
Về chi phí tố tụng: Buộc Ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B chịu chi phí tố tụng theo quy định.
Về án phí. Ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B là hộ dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn. Tại phiên toà có yêu cầu miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nên cần miễn tiền án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngân hàng TMCP P, khởi kiện ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B về tranh chấp Hợp đồng tín dụng không có mục đích lợi nhuận được ký kết giữa các bên. Toà án xác đinhhj đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật dân sự. Bị đơn có nơi cú trú tại huyện T, tỉnh Nghệ An nên thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh NGhệ An.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập hợp lệ, nhưng bị đơn ông Lô Văn T2 vẫn cố tình vắng mặt. Đây là phiên tòa được mở lần thứ hai, cho nên Tòa án vẫn xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.
[2] Về nội dung vụ án:
Vào ngày 28/09/2020 và ngày 29/09/2020 giữa Ngân hàng TMCP P (O) và vợ chồng ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B có ký kết Hợp đồng tín dụng số 0289/2020/HĐTD-OCB-CN ngày 28/09/2020 và Khế ước nhận nợ số 0289.01/2020/KUNN-OCB-CN ngày 29/09/2020 với nội dung: Ngân hàng TMCP P
cho vợ chồng ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B vay số tiền: 350.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm năm mươi triệu đồng); Mục đích vay: Tiêu dùng. Khi vay hai bên thống nhất: Thời hạn vay: 120 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.
-
+ Lãi suất vay và phương pháp tính lãi:
-
Lãi suất vay trong hạn:
Trong 03 tháng đầu: Lãi suất vay 10.5%/năm. Từ tháng thứ 04 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/ lần.
- Tiền lãi được tính trên cơ sở một năm có 365 ngày.
- Số tiền lãi phải trả = (Số dư nợ thực tế tính lãi) x (Số ngày thực tế của kỳ tính lãi) x (Lãi suất(%năm)) : 365 ngày.
- Tiền lãi được tính từ ngày giải ngân khoản cấp tín dụng hoặc ngày tiếp theo ngày giải ngân khoản cấp tín dụng theo lựa chọn của O phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
- Lãi suất cho vay được điều chỉnh theo thỏa thuận tại Khế ước nhận nợ. OCB được quyền ấn định lãi suất cho vay tại Khế ước nhận nợ cho các Kỳ điều chỉnh lãi suất khi xảy ra sự kiện biến động thị trường dẫn đến (i) lãi suất cho vay sau khi điều chỉnh thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu theo quy định pháp luật, quy định của Ngân hàng N1 (ii) không tồn tại hoặc không thể xác định được lãi suất cơ sở, lãi suất tham chiếu để điều chỉnh lãi suất theo thỏa thuận tại Khế ước nhận nợ.
-
Lãi suất vay trong hạn:
- Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên bao gồm:
Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0289/2020/BĐ ngày 28/09/2020 ký giữa ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B với OCB thì tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên bao gồm:
-
+ Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 335977, số vào sổ cấp GCN: CH00551 do UBND huyện T cấp ngày 13/04/2015 cho ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B, cụ thể như sau:
-Thửa đất số: 69; Tờ bản đồ số: 78; Địa chỉ thửa đất: Bản N, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Diện tích: 1320 m2.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng số 0289/2020/HĐTD-OCB-CN ngày 28/09/2020 và Khế ước nhận nợ số 0289.01/2020/KUNN-OCB-CN ngày 29/09/2020. Cho nên Ngân hàng TMCP P đề nghị Toà án buộc ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B thanh toán cho Ngân hàng số tiền cụ thể như sau:
| + Nợ gốc trong hạn: | 291.800.000 đồng; |
| + Nợ lãi trong hạn: | 681.935 đồng; |
| + Nợ lãi quá hạn: | 102.902.924 đồng; |
| + Tổng cộng: | 395.384.859 đồng |
Và yêu cầu Toà án tuyên bố tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp đối với thửa đất số 69; Tờ bản đồ số: 78; Địa chỉ thửa đất: Bản N, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Diện tích: 1320 m2 để đảm bảo cho việc thi hành án.
[3] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ cho thấy:
Tòa án đã tiến hành thẩm định xem xét tại chỗ có sự chứng kiến của đương sự và chính quyền địa phương cho thấy:
Thửa đất số 69, tờ bản đồ số 78 ( nay là thửa đất số 36, tờ bản đồ số 47), có diện tích 1320m². Địa chỉ thửa đất xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B.
Trên thửa đất hiện có các tài sản sau:
- Một bờ rào bằng thép có 02 cột cổng xây bằng gạch có ốp lát, có 02 cánh cổng
- Một ngôi nhà gỗ gồm có 3 gian, phía trên lợp ngói, xung quanh xây tường, lát gạch hoa. Phía trước ngôi nhà này có lợp mái tôn bằng xốp.
- Một ngôi nhà ngang xung quanh xây tường trên lợp tôn, phía trong có các công trình vệ sinh phụ trợ.
- Một ngôi nhà cấp 4 gồm có 03 gian xung quanh xây tường trên lợp ngói kiến thiết, có đóng trần nhựa kế bên có 01 gian bếp.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm nghĩa vụ trả nợ số tiền gốc và lãi đã vay của hợp đồng 0289/2020/HĐTD-OCB-CN ngày 28/09/2020 và Khế ước nhận nợ số 0289.01/2020/KUNN-OCB-CN ngày 29/09/2020 với số 395.384.859 đồng. Trong đó số tiền gốc là 291.800.000 đồng và tiền lãi trong hạn : 681.935 đồng; và lãi quá hạn là 102.902.924 đồng là có căn cứ để chấp nhận; các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là có căn cứ, như các Hợp đồng tín dụng và các chứng cứ giải ngân tiền, công văn đốc thúc trả nợ, cũng như lời thừa nhận của bị đơn
[4] Xét ý kiến của bị đơn:
Bị đơn hoàn toàn thừa nhận số nợ như nguyên đơn đã trình bày.
[5] Xét ý kiến của Kiểm sát viên:
Các ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với lời khai của nguyên đơn và các chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được làm rõ tại phiên tòa.
[6] Vì vậy cần buộc ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ngân hàng TMCP P số tiền 395.384.859 đồng. Trong đó số tiền gốc là 291.800.000 đồng và tiền lãi trong hạn : 681.935 đồng; lãi quá hạn 102.902.924 đồng là hoàn toàn phù hợp với. Điều 274; 275; 288; 463; 465; 466; 468 Bộ luật dân sự.
[7] Bị đơn phải chịu số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định.
[8] Về án phí: Bị đơn là người dân tộc thiểu số có yêu cầu xem miễn án phí dân sự cho nên cần miễn tiền án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; Điều 147; Điều 157, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 274; 275; 288; 289; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự, Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP P (O)
- Buộc ông Lô Văn T3 và bà Cụt Thị B có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng TMCP P số tiền số tiền 395.384.859 ( Ba trăm chín mươi lăm triệu, ba trăm tám mươi bốn nghìn, tám trăm năm mươi chín đồng) đồng. Trong đó số tiền gốc là 291.800.000 ( Hai trăm chín mươi mốt triệu, tám trăm nghìn đồng) đồng và tiền lãi trong hạn : 681.935 ( Sáu trăm tám mưới mốt nghìn, chín trăm ba mươi lăm đồng) đồng; và lãi suất quá hạn 102.902.924 ( Một trăm linh hai triệu, chín trăm linh hai nghìnm chín trăm hai mươi bốn đồng) đồng
- Trường hợp vợ chồng ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B, không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ nói trên cho Ngân hàng TMCP P, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất số 69; Tờ bản đồ số: 78; Địa chỉ thửa đất: Bản N ( Nay là Bản B), xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị Ban N 13 tháng 4 năm 2015; theo Hợp đồng thế chấp số 0289/2020/BĐ ngày 28/09/2020 được ký giữa ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B với Ngân hàng TMCP P (O) đã được đăng ký giao dịch thế chấp tại Văn phòng đăng ký
-
quyền sử dụng đất huyện T ( nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T ), tỉnh Nghệ An, ngày 28 tháng 9 năm 2020 theo quy định của pháp luật.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp dùng để thanh toán theo thứ tự mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp. Nếu còn thừa thì được trả lại cho bên thế chấp tài sản; trường hợp tài sản thế chấp không đủ để trả nợ, thì vợ chồng ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B, còn phải tiếp tục trả tiếp số tiền còn thiếu cho đến khi thi hành xong.
Trường hợp khi xử lý tài sản thế chấp, bên thế chấp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được bảo đảm hoặc thay đổi tài sản thế chấp bằng biện pháp bảo đảm khác và hai bên đã làm thủ tục giải trừ thế chấp, thì bên thế chấp được nhận lại toàn bộ giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng tài sản thế chấp và các giấy tờ liên quan ( nếu có ).
-
Về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
- Trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP P ( O) số tiền: 8.322.000 đồng (Tám triệu, ba trăm hai mươi hai nghìn đồng ) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011690 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Vợ chồng ông Lô Văn T2 và bà Cụt Thị B phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP P ( O), số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng ).
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lô Văn T3 và bà Cụt Thị B.
-
Kể từ ngày 26/7/2024, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
-
thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Trường Giang |
Bản án số 17/2024/DSST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 17/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng + Tuấn
