Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17 /2024/HNGĐ-PT

Ngày: 14/5/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung,

chia tài sản khi ly hôn và hủy hợp đồng tặng

cho quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng

Các Thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến

Ông Trần Vĩnh Yên

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trang – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà

Trần Thị Loan – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07, ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 88/2023/TLPT-HNGĐ ngày 25/10/2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản khi ly hôn và huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 85/2023/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2024/QĐ-PT ngày 22/01/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm: 1997.

Địa chỉ: Số I ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm: 1995.

Địa chỉ: Số A, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Toàn T, sinh năm: 1971.

2/ Bà Phạm Thị Thu H1, sinh năm: 1972.

Cùng địa chỉ: Số A, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T và bà H1: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1976. Địa chỉ: khu phố E, thị trấn M, tỉnh Bến Tre (theo hợp đồng ủy quyền do UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 28/8/2023).

- Người kháng cáo: Chị Trần Thị H, anh Nguyễn Hoàng A, ông Nguyễn Toàn T, bà Phạm Thị Thu H1.

(Chị H, ông P có mặt, anh A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm,

- Nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hoàng A tự nguyện kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 126/2016 ngày 08/10/2016. Vợ chồng chung sống đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cách nuôi dạy con cái. Cuộc sống vợ chồng không hòa thuận nên thường xuyên gây gỗ, cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện tại chị và anh A đã sống ly thân. Chị nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng A.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Hoàng A có 01 con chung tên là Nguyễn Trần Bảo V, sinh ngày 06/5/2018. Từ khi vợ chồng ly thân thì cháu V ở cùng với chị và được chị chăm sóc tốt. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung, yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con hằng tháng, mỗi tháng là 1.500.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 01/8/2023 đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung là diện tích đất 186m² thuộc thửa số 1743, tờ bản đồ số 05 tại xã P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 348175 ngày 05/4/2006 cho cha mẹ chồng chị là ông Nguyễn Toàn T và bà Phạm Thị Thu H1, cập nhật đăng ký biến động trang 4 cho chị và anh Nguyễn Hoàng A ngày 23/3/2020. Trên đất có 01 căn nhà cấp 4 diện tích 135m² chiều ngang 9m, dài 15m, tường gạch, mái tôn. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá lần 2 thì giá trị quyền sử dụng đất là 2.092.200.000 đồng, giá trị căn nhà là 547.811.000 đồng (bao gồm giá trị chuồng gà mà chị và anh Hoàng A xây dựng sau khi được cha mẹ chồng cho nhà đất) và các công trình khác trên đất có tổng trị

giá là 54.849.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng là 2.694.860.000 đồng.

Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh A mỗi người được hưởng ½ tổng giá trị tài sản gồm quyền sử dụng đất và nhà ở cùng các công trình trên đất. Chị đồng ý giao toàn bộ hiện vật cho anh A quản lý, sử dụng. Anh Nguyễn Hoàng A có trách nhiệm thanh toán ½ giá trị tài sản chung bằng tiền mặt cho chị theo kết luận định giá của Hội đồng định giá lần 2 là 1.347.430.000đ (một tỷ ba trăm bốn mươi bảy triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng).

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về yêu cầu khởi kiện độc lập của ông T và bà H1: Chị không đồng ý yêu cầu khởi kiện độc lập của ông T và bà H1 về việc hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vì hợp đồng tặng cho được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Ngoài ra chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

- Bị đơn anh Nguyễn Hoàng A trình bày:

Anh thống nhất với chị H về quá trình sống chung và thời gian đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống không bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Tuy nhiên, anh không đồng ý ly hôn với chị H vì con còn nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc của cả cha và mẹ.

Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là Nguyễn Trần Bảo V, sinh ngày 06/5/2018. Nếu phải ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Trần Bảo V. Anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh không đồng ý yêu cầu chia tài sản chung của chị H đối với toàn bộ diện tích đất 186m² thuộc thửa số 1743, tờ bản đồ số 5 tại xã P vì đây là tài sản của cha mẹ tặng cho riêng anh trước khi kết hôn. Anh đồng ý trả lại toàn bộ nhà đất cho cho cha mẹ anh là ông T, bà H1.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về yêu cầu khởi kiện độc lập của ông T và bà H1: Anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện độc lập của ông T và bà H1 về việc hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 1090 ngày 17/3/2020 do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Mai S lập và anh tự nguyện hoàn trả lại phần tài sản nêu trên cho cha mẹ- ông T, bà H vì đây không phải là tài sản do anh chị tạo lập trong thời kỳ hôn nhân.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Toàn T- bà Phạm Thị Thu H1 trình bày:

Trước ngày 17/3/2016, vợ chồng ông bà có cho con trai là Nguyễn Hoàng A căn nhà diện tích 135m² có chiều ngang 9m, dài 15m gắn liền với diện tích đất

254,2m² được cấp giấy 186m² ONT, chưa được cấp giấy 68,2m² thuộc thửa số 333, tờ bản đồ 16 tại xã P mới (đã được chỉnh lý vào tháng 7/2019) nhưng chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Hoàng A. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 348175 ngày 05/4/2006 thì diện tích đất tặng cho anh A được cấp là 186m² thuộc thửa số 1743, tờ bản đồ số 5 tại xã P. Đến ngày 08/10/2016, anh Nguyễn Hoàng A và chị Trần Thị H đăng ký kết hôn và có một con chung Nguyễn Trần Bảo V, sinh ngày 06/5/2018.

Đến ngày 23/3/2020, do áp lực từ phía con trai – anh Hoàng A nên vợ chồng ông bà đồng ý sang tên sổ đỏ cho con trai và con dâu đứng tên thửa đất nêu trên. Vừa sang sổ được vài tháng thì chị H có biểu hiện khác lạ, bỏ bê không chăm lo gia đình. Chị H có ý định đòi ly hôn chia tài sản từ đó cuộc sống hôn nhân của vợ chồng chị H và anh A không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Sau đó chị H mang theo con bỏ nhà đi đến nay. Chị H nộp đơn xin ly hôn, yêu cầu chia tài sản thì ông bà thấy không thỏa đáng vì từ ngày cưới đến nay chị H chưa phải làm dâu ngày nào, không làm việc gì đóng góp phần tạo ra kinh tế gia đình. Vì vậy ông bà không đồng ý với yêu cầu chia tài sản của chị H. Ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 1090, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Mai S lập ngày 17/3/2020, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 348175 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 05/4/2006 đối với thửa số 1743, tờ bản đồ số 5, diện tích 186m² tại xã P, chỉnh lý lại vào tháng 7/2019 là thửa số 333, tờ bản đồ số 6, diện tích đất 254,2m² được cấp giấy 186m² ONT, chưa được cấp giấy 68,2m² tại xã P giữa ông bà với anh A và chị H.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2023/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023

của Tòa án nhân dân huyện Định Quán tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị H. Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng A.

- Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Trần Bảo V, sinh ngày 06/5/2018 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Hoàng A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hằng tháng, mỗi tháng là 1.500.000đ. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 01/8/2023 đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

- Về tài sản chung: Giao toàn bộ tài sản là quyền sử dụng đất (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 348175 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 05/4/2006 đối với thửa số 1743, tờ bản đồ số 5, diện tích 186m² tại xã P, chỉnh lý lại vào tháng 7/2019 là thửa số 333, tờ bản đồ số 6, diện tích đất 254,2m² được cấp giấy 186m² ONT, chưa được cấp giấy 68,2m² tại xã P), nhà (C), chuồng gà (C4H3), bậc tam cấp (xây tô, xây đá cao 45cm, diện tích 11,88m²), sân nền xi măng (đá dăm dày 10), mái che (cột sắt, kèo sắt, lợp tôn màu), giếng đào (miệng

giếng 1.2m), cổng sắt kiên cố [(9.5 x 2)m] cho anh Nguyễn Hoàng A sở hữu, quản lý sử dụng.

Anh Nguyễn Hoàng A có trách nhiệm thanh toán cho chị Trần Thị H 897.567.500đ (tám trăm chín mươi bảy triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn năm trăm đồng).

Anh Nguyễn Hoàng A có trách nhiệm thanh toán cho bà Phạm Thị Thu H1 và ông Nguyễn Toàn T 481.255.000đ (bốn trăm tám mươi mốt triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn đồng).

- Nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

Ngoài ra, bản án còn tuyên chi phí tố tụng, quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 01/8/2023, nguyên đơn chị Trần Thị H kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 85/2023/HNGĐ-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo hướng chia ½ tổng giá trị tài sản chung bao gồm cả diện tích đất, nhà ở và các công trình gắn liền với diện tích đất. Chị H đồng ý giao hiện vật cho anh Hoàng A quản lý sử dụng và anh Hoàng A phải có trách nhiệm thanh toán cho chị H 1.319.905.000 đồng.

Ngày 31/7/2023, bị đơn anh Nguyễn Hoàng A kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 85/2023/HNGĐ-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo hướng: Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ký ngày 17/3/2023 và kiến nghị cơ quan chức năng điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh và chị H đối với thửa đất số 1743, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại xã P cho anh đứng tên; sửa nội dung chia tài sản theo hướng chỉ chia cho chị H 30% giá trị tài sản là chuồng gà, giếng nước.

Ngày 31/7/2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Toàn T, bà Phạm Thị Thu H1 đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 85/2023/HNGĐ-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo hướng hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ký ngày 17/3/2023 và kiến nghị cơ quan chức năng điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh A và chị H đối với thửa đất số 1743, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại xã P cho anh A đứng tên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

- Ông P đại diện cho người liên quan nêu ý kiến có thay đổi yêu cầu kháng cáo về việc kiến nghị cơ quan chức năng điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh A và chị H đối với thửa đất số 1743, tờ bản đồ số 05, tọa lạc

tại xã P cho anh A đứng tên thành điều chỉnh cho ông T1, bà H1 đứng tên, ngoài ra các nội dung kháng cáo khác vẫn giữ nguyên.

Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án cũng như không ai cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đảm bảo đúng thời hạn, đúng thành phần, đúng trình tự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về kháng cáo: Các đương sự kháng cáo đã làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận kháng cáo hợp pháp và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

- Về nội dung kháng cáo: Xét tài sản là diện tích đất 254,2m² thuộc thửa số 1743, tờ bản đồ số 05 tại xã P (mới là thửa 333, tờ bản đồ số 16) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 348175 ngày 05/4/2006 có nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Toàn T và bà Phạm Thị Thu H1. Tuy nhiên, ngày 17/3/2020 ông T, bà H1 đã làm hợp đồng tặng cho anh Nguyễn Hoàng A và chị Trần Thị H diện tích đất nói trên. Hợp đồng tặng cho có chữ ký của cả ông T, bà H1, hợp đồng được công chứng theo quy định. Ngày 23/3/2020 đã được cập nhật biến động tặng cho anh Hoàng A, chị H vào trang 4 của Giấy chứng nhận QSDĐ. Như vậy việc tặng cho quyền sử dụng đất đã đúng quy định pháp luật và có hiệu lực. Mặc dù trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không thể hiện việc tặng cho căn nhà trên đất nhưng tại phiên tòa sơ thẩm chính bà H1 và anh Hoàng A cũng thừa nhận bà H1 và ông T cho nhà đất cho 1 mình con trai và ông bà yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và trả lại nhà đất cho ông bà. Mặt khác khi được HĐXX hỏi tại sao bà H, ông T không làm hợp đồng tặng cho nhà cùng với đất mà chỉ làm hợp đồng tặng cho đất thì bà H1 đồng thời là đại diện theo ủy quyền của ông T trả lời do ông bà không hiểu biết. Qua đó có thể thấy mặc dù trong hợp đồng tặng cho không thể hiện tặng cho nhà nhưng về ý chí của bà H1 và ông T thì tặng cho con cả nhà và đất. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của ông T, bà H1 khai chỉ cho 1 mình con trai đất, không cho nhà là mâu thuẫn với lời khai trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm. Hơn nữa từ khi được tặng cho chị H và anh Hoàng A cũng đã sống trên đất và nhà nhưng ông T, bà H1 không có ý kiến gì. Ông T, bà H1 cho rằng thửa đất trên ông T, bà H1 chỉ cho riêng con trai là ông Hoàng A, dịch vụ nhà đất đã tự ý cho con dâu là chị H trên hợp đồng tặng cho và công chứng hợp

đồng. Ông bà khai như vậy nhưng không có chứng cứ chứng minh. Do đó cần xác định thửa đất số 1743, tờ bản đồ số 05 tại xã P (mới là thửa 333, tờ bản đồ số 16) và nhà gắn liền trên đất là tài sản chung vợ chồng.

Mặc dù thửa đất số 1743, tờ bản đồ số 05 tại xã P và nhà là tài sản chung vợ chồng nhưng về nguồn gốc là của ông T, bà Hà t cho anh Hoàng A và chị H do đó Tòa án cấp sơ thẩm chia thửa đất theo tỷ lệ anh Hoàng A 60%, chị H 40% là có căn cứ. Tuy nhiên Tòa án không xác định nhà là tài sản chung của vợ chồng là thiếu sót do đó cần chia nhà và đất theo tỷ lệ anh Hoàng A 60%, chị H 40%.

Đối với các tài sản là giếng đào, chuồng gà: tài sản này do vợ chồng anh Hoàng A, chị H tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân nên công sức đóng góp là ngang nhau. Do đó Tòa án chia đôi tài sản này là có căn cứ.

Đề xuất: Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Hoàng A, ông Nguyễn Toàn T và bà Phạm Thị Thu H1, chấp nhận 1 phần kháng cáo của chị Trần Thị H. Áp dụng khoản 2, Điều 308 BLTTDS sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định căn nhà gắn liền trên thửa đất số 1743, tờ bản đồ số 05 tại xã P là tài sản chung vợ chồng và chia theo tỷ lệ anh Hoàng A 60%, chị H 40%. Anh Hoàng A được nhận hiện vật và thanh toán lại giá trị căn nhà cho chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các ông bà Trần Thị H, Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Toàn T, Phạm Thị Thu H1 nộp trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm. Anh Hoàng A có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ nên chấp nhận.

[2] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Cấp sơ thẩm đã xác định đúng và đầy đủ theo quy định tại Điều 26, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, con chung, cấp dưỡng nuôi con không bị bên nào kháng cáo, kháng nghị nên không xét.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của ông T, bà H1, chị H và anh A:

[4.1] Căn cứ chứng cứ và lời khai của các bên đương sự có trong hồ sơ vụ án, xác định giữa ông T, bà H1 và anh A, chị H có ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/3/2020 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng). Cụ thể: ông T, bà Hà t cho anh A, chị H quyền sử dụng đất diện tích 254,2 m2 (trong đó diện tích được cấp là 186 m2, chưa được cấp là 68,2 m2), thửa đất số 333, tờ bản

đồ số 16 tại xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận QSD đất số AD9348175 do UBND huyện Đ cấp ngày 05/4/2006. Hợp đồng đã được công chứng số 1090, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Mai S ngày 17/3/2020.

[4.2] Suốt quá trình thu thập chứng cứ và giải quyết vụ án của cấp sơ thẩm, các bên đều thừa nhận có ký tên và ghi tên hai bên trong Hợp đồng, cho đến nay không có tài liệu hoặc văn bản nào xác định đã hủy bỏ Hợp đồng. Như vậy, có cơ sở xác định việc ông T, bà Hà t cho quyền sử dụng đất cho anh A, chị H là hợp pháp.

[4.3] Việc ông T, bà H1 cho rằng do áp lực từ con trai là anh A nên ông bà mới ký Hợp đồng là không có căn cứ, bởi lẽ khi giao kết hợp đồng, cả ông T, bà H1, anh A, chị H đều được Công chứng viên xác định đủ năng lực hành vi, sự minh mẫn và sự tự nguyện khi ký hợp đồng.

[4.4] Đối với việc ông T, bà H1 cho rằng Hợp đồng bị vô hiệu vì không ghi nhận việc cho nhà, xét thấy tại thời điểm giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất thì đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn căn nhà trên đất chưa được công nhận trên giấy chứng nhận, do đó sẽ không đủ điều kiện để tặng cho theo quy định.

[4.5] Từ những căn cứ trên thấy rằng việc ông T, bà H1 ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) số công chứng 1090, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị M Sao chứng nhận ngày 17/3/2020, theo quy định chỉ có căn cứ để xác định các bên thực hiện việc tặng cho quyền sử dụng đất, không bao gồm việc tặng cho căn nhà trên đất. Cấp sơ thẩm công nhận việc tặng cho đất mà không công nhận tặng cho nhà là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của chị H về việc xác định tài sản chung vợ chồng bao gồm căn nhà là không có căn cứ.

[4.6] Việc ông T, bà H1 cho rằng cấp sơ thẩm giải quyết vụ án vượt quá yêu cầu khởi kiện do chị H ban đầu chỉ khởi kiện yêu cầu chia đất 186 m2, nhưng khi ra bản án thì Tòa giải quyết 254,2 m2. Xét thấy, thửa đất 1743, tờ số 05 được cấp ban đầu là 186 m2 ngày 05/4/2006. Đến ngày 25/7/2019 thì được xác nhận thay đổi diện tích sau khi đo đạc lại là 254,2 m2 (được cấp giấy là 186 m2, chưa được cấp giấy là 68,2 m2), thửa đất số 333, tờ bản đồ số 16 mới. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh A cũng xác định tài sản vợ chồng là 254,2 m2 đất, người liên quan ông T, bà H1 cũng xác nhận đất tặng cho là 254,2 m2 đất. Bản chất diện tích đất 68,2 m2 là phần chưa được cấp giấy nhưng cũng là tài sản hợp nhất và liền khối với 186 m2 đất đã được cấp giấy chứng nhận. Do vậy, việc cấp sơ thẩm xem xét giải quyết đối với diện tích đất 254,2 m2 là có căn cứ và phù hợp, nên ý kiến của ông T, bà

H1 về việc cấp sơ thẩm giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện là không có cơ sở chấp nhận.

[4.7] Đối với yêu cầu kháng cáo của chị H về việc chia cho chị ½ trên tổng giá trị tài sản chung. Xét thấy, đất đang tranh chấp có nguồn gốc do ông T, bà H1- là cha mẹ của anh A, chồng chị H tặng cho anh A, chị H (hợp đồng tặng cho ngày 17/3/2020). Đến ngày 07/12/2021, chị H nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh. Điều này cho thấy sau khi nhận tặng cho đất từ cha mẹ chồng, không bao lâu chị H đã nộp đơn ly hôn nên công sức giữ gìn, đóng góp của chị H đối với đất không nhiều. Cấp sơ thẩm nhận định chị H có công bảo quản nhà đất, nuôi con nhỏ là đã có xem xét, chiếu cố đối với chị H. Do vậy, cấp sơ thẩm chia phần cho anh A là 60%, chị H là 40% là có cân nhắc và phù hợp. Đối với các công trình trên đất có sau khi được tặng cho gồm chuồng gà và giếng đào, anh A cho rằng do anh bỏ tiền bạc, công sức ra tạo dựng; chị H cho rằng tiền xây dựng các công trình là do cha mẹ ruột chị đưa tiền xây. Tuy nhiên trình bày của anh A, chị H đều không có căn cứ chứng minh nên vẫn xác định các công trình trên (ngoài căn nhà có trước khi được tặng cho đất) được tạo dựng trong thời gian anh chị là vợ chồng hợp pháp là tài sản chung vợ chồng và được xem xét quyền lợi anh, chị ngang nhau.

[5] Từ những nhận định trên, HĐXX không chấp nhận các kháng cáo của chị Trần Thị H, anh Nguyễn Hoàng A, ông Nguyễn Toàn T, bà Phạm Thị Thu H1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên chị H, anh A, ông T2, bà H1 mỗi người phải chịu án phí là 300.000 đồng.

[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát phiên tòa về việc xác định tài sản chung vợ chồng gồm căn nhà trên đất không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không chấp nhận.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH/14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị H, anh Nguyễn Hoàng A, ông Nguyễn Toàn T, bà Phạm Thị Thu H1. Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 85/2023/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

Căn cứ Điều 5, Điều 26, Điều 28, Điều 35, Điều 45, Điều 68, Điều 92, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 33, Điều 34, Điều 43, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 6, Điều 117, Điều 401, Điều 408, Điều 429, Điều 459, Điều 500, Điều 501, Điều 502 của Bộ luận dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 170, Điều 188 của Luật đất đai năm 2013;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con chung và chia tài sản chung của chị Trần Thị H. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Toàn T, bà Phạm Thị Thu H1 về việc hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng A.

2. Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Trần Bảo V, sinh ngày 06/5/2018 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Hoàng A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hằng tháng, mỗi tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 01/8/2023 đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Anh A được quyền đi lại thăm nuôi con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, anh A và chị H được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Giao toàn bộ tài sản là quyền sử dụng đất (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 348175 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 05/4/2006 đối với thửa số 1743, tờ bản đồ số 5, diện tích 186 m2 tại xã P, chỉnh lý lại vào tháng 7/2019 là thửa số 333, tờ bản đồ số 6, diện tích đất 254,2 m2 được cấp giấy 186 m2 ONT, chưa được cấp giấy 68,2 m2 tại xã P), nhà (C), chuồng gà (C4H3), bậc tam cấp (xây tô, xây đá cao 45cm, diện tích 11,88 m2), sân nền xi măng (đá dăm dày 10), mái che (cột sắt, kèo sắt, lợp tôn màu), giếng đào (miệng giếng 1.2m), cổng sắt kiên cố [(9.5 x 2)m] cho anh Nguyễn Hoàng A sở hữu, quản lý sử dụng.

Anh Nguyễn Hoàng A có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Hoàng A có trách nhiệm thanh toán cho chị Trần Thị H 897.567.500₫ (tám trăm chín mươi bảy triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Anh Nguyễn Hoàng A có trách nhiệm thanh toán cho bà Phạm Thị Thu H1 và ông Nguyễn Toàn T 481.255.000đ (bốn trăm tám mươi mốt triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

4. Về nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

5. Về chi phí tố tụng: Chị H phải chịu 3.200.000 đồng tiền chi phí tố tụng. Anh A có trách nhiệm thanh toán cho chị H 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

6. Về án phí:

+ Án phí sơ thẩm:

- Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình. Số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003324 ngày 07/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán được trừ vào số tiền án phí hôn nhân gia đình chị H phải chịu. Chị H phải chịu 44.702.085 đồng tiền án phí dân sự chia tài sản. Số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 5.000.000 đồng theo biên lai số 0003323 ngày 07/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán được trừ vào số tiền án phí dân sự chị H phải chịu. Chị H còn phải nộp 39.702.085₫ (ba mươi chín triệu, bảy trăm lẻ hai nghìn, không trăm tám mươi lăm đồng).

- Anh Nguyễn Hoàng A phải chịu tiền án phí dân sự chia tài sản là 60.143.415₫ (sáu mươi triệu, một trăm bốn mươi ba nghìn, bốn trăm mười lăm đồng) và 300.000 đồng tiền án phí về cấp dưỡng nuôi con.

- Ông Nguyễn Toàn T và bà Phạm Thị Thu H1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự. Số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ông T và bà H1 đã nộp theo biên lai số 0003433 ngày 09/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán được tính trừ vào tiền án phí phải chịu. Ông T và bà H1 đã nộp xong.

+ Án phí phúc thẩm: Chị H, anh A, ông T, bà H1 mỗi người phải chịu án phí là 300.000 đồng, trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H, anh A, ông T, bà H1 đã nộp tại các Biên lai số 0004579, 0004580, 0004581, 0004582 ngày 14/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán. Các ông bà đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

- TAND cấp huyện;

- VKSND tỉnh Đồng Nai;

- Chi cục THADS cấp huyện;

- Đương sự trong vụ án;

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thanh Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản khi ly hôn và hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản khi ly hôn và hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H - Nguyễn Hoàng A - TC Ly hôn, con chung, chia TS chung, HĐ tặng cho
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger