Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-9-2024

V/v "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Phùng

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:

Bà Đặng Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S – sinh năm 1996
  • Nơi ĐKNKTT: Làng D, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai
  • Hiện cư trú tại: 5 McIntosh D, markkham, ON, Canada
  • - Bị đơn: Anh Huỳnh Hữu N – sinh năm 1995
  • Cư trú tại: Xóm B, thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định

(chị Nguyễn Thị S, anh Huỳnh Hữu N có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 20/03/2024 và bản tự khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị S trình bày: Chị và anh Huỳnh Hữu N tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/6/2016 tại UBND xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Đến đầu năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị và anh N có quan điểm, lối sống khác biệt. Chị đã cố gắng để hàn gắn nhưng vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và đã sống ly thân từ cuối năm 2018, tháng 02/2024 chị xuất cảnh sang Canada lao động. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn anh Huỳnh Hữu N.

2

Về con chung: Chị và anh Huỳnh Hữu N có 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 25/01/2018, sức khỏe bình thường, hiện cháu đang ở với ông bà ngoại của cháu tại số A Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con, tạm gửi con cho ông bà ngoại tiếp tục nuôi dưỡng trong thời gian chị lao động ở Canada, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện chị đang ở nước ngoài, đi lại khó khăn nên yêu cầu Tòa giải quyết vụ án vắng mặt.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/8/2024 và ngày 04/9/2024 bị đơn anh Huỳnh Hữu N trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị S có thời gian tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai, tổ chức đám cưới. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung với ba mẹ anh tại thôn L, xã Â, huyện H, Bình Định. Đến năm 2020, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh đi chơi cùng bạn thì chị S có lời lẽ không đúng mực, nên anh có tát chị S vài cái. Sau đó, chị S dẫn con chung về nhà mẹ ruột ở Gia lai sống từ đó đến nay, vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Thời gian sống ly thân cũng lâu, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu chị S.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị S có 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 25/01/2018, đồng ý giao con cho chị S nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, hiện chị S đang ở nước ngoài, nên đồng ý nuôi con khi Tòa án giao và không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.

Hiện tại, anh đang đi làm xa không có điều kiện đi lại, nên yêu cầu Tòa giải quyết vụ án vắng mặt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung:

Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị S.

Về con chung, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Anh Huỳnh Hữu N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 25/01/2018; về cấp dưỡng nuôi con: Anh N không yêu cầu, nên không xem xét.

Tài sản chung: chị S, anh N thống nhất không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

3

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị S hiện đang cư trú tại Canada, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị S và anh Huỳnh Hữu N đều vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt), Hội đồng vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S và anh Huỳnh Hữu N tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/6/2016 tại UBND xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai, nên hôn nhân giữa chị S và anh Nghĩa 1 hôn nhân hợp pháp.

Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo chị S, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Đến đầu năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị và anh N có quan điểm, lối sống khác biệt. Chị đã cố gắng để hàn gắn, nhưng vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và đã sống ly thân từ cuối năm 2018, tháng 02/2024 chị xuất cảnh sang Canada lao động. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn anh Huỳnh Hữu N. Còn anh Huỳnh Hữu N cũng thừa nhận: Sau khi cưới, vợ chồng sống chung với ba mẹ anh tại thôn L, xã Â, huyện H, Bình Định. Đến năm 2020 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh đi chơi cùng bạn thì chị S có lời lẽ không đúng mực, nên anh có tát chị S vài cái. Sau đó, chị S dẫn con chung về nhà mẹ ruột ở Gia lai sống từ đó đến nay, vợ chồng không liên lạc với nhau. Thời gian sống ly thân cũng lâu, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu chị S. Cho thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị S và anh Huỳnh Hữu N đã đến mức trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị S yêu cầu ly hôn anh Nghĩa là có căn cứ được quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung, nuôi con cung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị S và anh Huỳnh Hữu N có 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 25/01/2018, sức khỏe bình thường và hiện đang ở với ông bà ngoại của cháu tại số A Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Chị S yêu cầu trực tiếp nuôi con Huỳnh Nguyễn Thiện N1, nhưng hiện chị đang sống và làm việc ở Canada, nên việc giao con Huỳnh Nguyễn Thiện N1 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng là không đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Do đó, HĐXX giao con chung Huỳnh Nguyễn Thiện N1 cho anh Huỳnh Hữu N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng quy định tại Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014.

Anh N không yêu cầu chị Nguyễn Thị S cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị S và anh Huỳnh Hữu N thống nhất không yêu cầu tòa giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[4] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Huỳnh Hữu N.
  2. Về quan hệ con chung, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con:
    • Chị Nguyễn Thị S và anh Huỳnh Hữu N có một con chung là Huỳnh Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 25/01/2018. Hiện Huỳnh Nguyễn Thiện N1 đang ở với ông bà ngoại của cháu tại số A Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
    • Anh Huỳnh Hữu N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Huỳnh Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 25/01/2018.
    • Anh Huỳnh Hữu N không yêu cầu chị Nguyễn Thị S cấp dưỡng nuôi con Huỳnh Nguyễn Thiện N1, nên HĐXX không xem xét.
    • Bên không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản.
    • Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị S và anh Huỳnh Hữu N thống nhất không yêu cầu tòa giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001931 ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định (chị S đã nộp xong).

5

Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ; anh Huỳnh Hữu N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Định;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger