Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUANG BÌNH

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày 31 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Sơn Hải

Ông Hoàng Văn Luân

- Thư ký phiên toà: Ông Lâm Thái Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quang Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phúc - Kiểm sát viên

Ngày 31/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 02/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 18/7/2024 đối với bị cáo:

- Hoàng Xuân Q, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2001, tại huyện Q, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Tổ E, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: La Chí; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái: Không; số CCCD [...]; con ông: Hoàng Văn Q1, sinh năm 1981 và bà Lù Thị N, sinh năm 1974; Vợ: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Q, tỉnh Hà Giang; có mặt.

- Bị hại: Anh Súng Sào N1, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ E, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vũ Minh H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn Y, xã Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Súng Sào D, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ E, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 19/04/2024, Hoàng Xuân Q, Súng Sào N1 và Súng S Dùng cùng nhau ăn cơm, uống rượu tại nhà Vương Phúc C ở tổ E, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Khi đang ăn cơm thì N1 đi về nhà trước, đến khoảng hơn 23 giờ cùng ngày thì Q mượn xe mô tô của C đi về nhà N1 để ngủ nhờ. Khi Q vừa đến nhà N1 thì D cũng về đến nơi, D rủ Q xuống bếp tiếp tục uống rượu, còn N1 đang ngủ trên nhà. Trong lúc đang uống rượu thì D bảo Q đi lấy ống điếu để hút thuốc lào, Q đồng ý và đi lên nhà lấy ống điếu, sau khi lấy được ống điếu thì Q nhìn thấy trên bàn cạnh giường N1 đang ngủ có để 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE Xs Max, màu vàng, đây là chiếc điện thoại Q hay mượn của N1 để chơi điện tử nên Q biết được mật khẩu màn hình, Q cầm chiếc điện thoại lên rồi gạt nút tắt chuông sau đó Q cho điện thoại vào túi quần bên trái rồi mang ống điếu xuống bếp tiếp tục uống rượu với D. Khoảng 10 phút sau Q đi vệ sinh rồi mang chiếc điện thoại của N1 cất giấu ở bụi tre cách nhà khoảng 40 mét, giấu điện thoại xong Q quay lại tiếp tục uống rượu cùng với D. Sau đó D gọi N1 dậy cùng uống rượu, N1 dậy tìm điện thoại không thấy nên hỏi Q và D có thấy điện thoại của N1 không, Q và D trả lời không thấy, D lấy điện thoại của D ra gọi vào điện thoại của N1 nhưng không nghe thấy tiếng chuông điện thoại. Sau đó N1 tiếp tục đi ngủ, còn Q và D uống rượu thêm khoảng 30 phút thì đi ngủ cùng N1. Đến khoảng 07 giờ ngày 20/4/2024 Q dậy mang xe mô tô trả cho C rồi trưa ngày 20/4/2024 Q quay lại nhà N1 uống rượu cùng với D, uống đến khoảng 13 giờ 00 phút thì Q đi về, trên đường về Q vào bụi tre lấy chiếc điện thoại trộm cắp của N1 cho vào túi quần bên phải rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/04/2024 Q mang điện thoại trộm cắp được của N1 đến cửa hàng điện thoại "Gia V" bán cho chủ quán là Vũ Minh H, sinh năm 1994, trú tại thôn Y, xã Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang được số tiền 4.200.000 đồng. Đến ngày 22/4/2024 Súng Sào Ngọc đến Công an thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang trình báo sự việc. Tại cơ quan điều tra Hoàng Xuân Q khai nhận chiếc điện thoại Iphone Xs Max, màu vàng do anh Vũ Minh H giao nộp là tài sản Q trộm cắp của anh S1 Sào Ngọc vào đêm ngày 19/4/2024.

Tại Kết luận định giá tài sản số 110/KL-HĐĐG ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q, tỉnh Hà Giang kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone, vỏ màu vàng, số IMEI: 353102101902978 đã qua sử dụng có giá trị là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng).

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSQB ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Hoàng Xuân Q về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Q từ 07 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng.

Về nghĩa vụ chịu án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với đề nghị của Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trùng khớp với lời khai của bị cáo. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Hà Giang, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 19/4/2024 Hoàng Xuân Q đã lợi dụng lúc anh N1 ngủ say để lén lút trộm cắp của anh S1 Sào Ngọc 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng trị giá 4.000.000 đồng với mục đích bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Do vậy hành vi trên của bị cáo Q đã phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm hại đến trật tự công cộng, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo nhận thức được rằng hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích của cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Song bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể, ở địa phương bị cáo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, chấp hành tốt theo giấy báo, giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do vậy thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Đối với hành vi của anh Vũ Minh H là người trực tiếp mua điện thoại, nhưng khi trao đổi mua bán điện thoại anh H không biết đây là tài sản do Q phạm tội mà có nên không xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo đã tác động nhờ gia đình hoàn trả lại cho anh Vũ Minh H số tiền 4.200.000 đồng, anh H đã nhận đủ số tiền 4.200.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay anh H không còn yêu cầu gì khác về phần trách nhiệm dân sự. Anh Súng Sào N1 không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[7] Về vật chứng của vụ án:

  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, số IMEI: 353102101902978 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh N1, quá trình điều tra cơ quan công an đã trao trả cho bị hại anh Súng Sào N1, vì vậy tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[8] Về án phí: Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân Q phạm tội Trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Q 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Xuân Q cho Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Hoàng Xuân Q có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố Tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Hoàng Xuân Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng)

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngoài ra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - Sở Tư pháp Hà Giang;
  • - Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh;
  • - VKSND huyện Quang Bình;
  • - CA huyện Quang Bình;
  • - CCTHADS huyện Quang Bình;
  • - UBND TT Yên Bình;
  • - Bị cáo; bị hại; người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, AV.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Hải Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Xuân Quân Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger