Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH PHÚ

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày: 17/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Ngọc Sơn

Bà Phan Thị Cẩm Hồng

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khánh Nguyên - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Xem - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1988 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: số nhà A ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh T1: sinh năm 1964 và bà Chế Thị B, sinh năm: 1964; bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sư: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Ông Đỗ Đức A, sinh năm 1986. Nơi cư trú: số E ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre (xin xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng:

  • + Ông Lê Tự Quyết T2, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Công T3, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  • + Ông Trần Duy K, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  • + Ông Lê Duy T4, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 10/6/2023, Lê Văn T đang chơi đánh bida cùng với Nguyễn Văn K1 tại quán bida của ông Lê Tự Quyết T2 ở ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre thì có Đỗ Đức A đứng xem và nói chuyện qua lại với T thì xảy ra mâu thuẫn cự cãi với nhau. Đỗ Đức A dùng tay đánh vào vùng mặt của T một cái làm T bị dập môi, T lao vào xô xác với Đức A thì được những người có mặt tại quán B1. Sau khi bị đánh, T nói với Đức A “Mày đợi tao đi, tao không sợ mày đâu, mày đánh tao, tao đánh mày lại” rồi bỏ về nhà lấy dao. Khoảng 05 phút sau, T quay trở lại quán bida của T2 trên tay cầm con dao đi thẳng đến chỗ Đức A đang đứng chém Đức A thì Đức A dùng cây cơ đánh bida đưa lên đỡ làm cây cơ gãy và lưỡi dao chém trúng vào mặt Đức A. Đức A lao vào ôm T để tránh bị chém tiếp, lúc này ông Nguyễn Công T3 đi đến gật lấy con dao Thiểu đang cầm vứt xuống sàn nhà. Trong lúc giằng co với nhau thì T dùng răng cắn ngón giữa bàn tay phải của Đức A rồi giữ chặt kéo Đức A từ trong quán ra ngoài lộ, Đức A năn nỉ xin Thiểu nhả ngón tay ra để đi băng bó vết thương thì T mới nhả ra. Đức A được anh Trần Duy K đưa đến Trạm y tế xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre khâu vết thương, sau đó đến Bệnh viện Đa khoa Minh Đức thành phố B, tỉnh Bến Tre điều trị.

Vật chứng thu giữ: 01 con dao có tổng chiều dài 81cm, nặng 083kg; lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 53cm, lưỡi dao có một mặt sắc, rộng nhất 6,7cm, hẹp nhất 2,7cm, mũi nhọn; cán dao bằng gỗ dạng hình trụ tròn đường kính 3,5cm, dài 28cm. 01 cây cơ bida bằng gỗ, bị gãy làm 02 đoạn, một đoạt dài 69,20cm và đoạn còn lại dài 77cm.

Tại Bản kết luận giám định số 253-23/KLTTCT- TTPYBT ngày 25/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận Đỗ Đức A có các thương tích: Sẹo vùng thái dương phải, kích thước nhỏ; sẹo đốt xa ngón 3 bàn tay phải kích thước nhỏ; mất một phần gốc móng ngón 3 bàn tay phải; gãy xương gò má phải. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Đức A là 16%. Cơ chế hình thành thương tích: Sẹo vùng thái dương phải, gãy xương gò má phải do vật sắc nhọn gây ra; sẹo đốt xa ngón 3 bàn tay phải, mất một phần gốc móng tay ngón 3 bàn tay phải do vật tày gây ra.

Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKS, ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (theo điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 (theo điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy những vật chứng, đồ vật sau do đã cũ, đã hư hỏng, không còn giá trị sử dụng và chủ sở hữu không yêu cầu nhận lại: 01 con dao có tổng chiều dài 81cm, nặng 083kg; lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 53cm, lưỡi dao có một mặt sắc, rộng nhất 6,7cm, hẹp nhất 2,7cm, mũi nhọn; cán dao bằng gỗ dạng hình trụ tròn đường kính 3,5cm, dài 28cm. 01 cây cơ bida bằng gỗ, bị gãy làm 02 đoạn, một đoạt dài 69,20cm và đoạn còn lại dài 77cm.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo; thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, tố cáo gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường do Cơ quan điều tra Công an huyện T lập; Lời khai của bị hại và phù hợp với lời khai của các người làm chứng. Bên cạnh đó, lời khai của bị cáo còn phù hợp với vật chứng bị thu giữ. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 10/6/2023, tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre, Bị cáo Lê Văn T có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào mặt và dùng răng cắn ngón 3 bàn tay phải của bị hại Đỗ Đức A gây thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là 16%. Do đó, bị cáo Lê Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi phạm tội của mình gây ra. Theo Bản kết luận giám định số 253-23/KLTTCT- TTPYBT ngày 25/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận bị hại Đỗ Đức A có các thương tích: Sẹo vùng thái dương phải, kích thước nhỏ; sẹo đốt xa ngón 3 bàn tay phải kích thước nhỏ; mất một phần gốc móng ngón 3 bàn tay phải; gãy xương gò má phải. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Đức A là 16%. Từ những phân tích như đã nêu ở trên cho thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm đ, khoản 2 (thuộc trường hợp được quy định a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Dùng hung khí nguy hiểm;
  • ...
  • Có tính chất côn đồ; ...
  • ...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

...

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

..."

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; Đồng thời bị cáo có ông nội và chú ruột là liệt sĩ, bà nội là Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng; bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Lê Văn T đã đủ 18 tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà bị cáo gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân nên cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và trong quá trình điều tra và tại tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Ngoài ra nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo gây thương tích đối với bị hại có một phần lỗi của bị hại, bị hại đánh vào môi của bị cáo trước, do tức giận nên sau đó bị cáo dùng dao chém và cắn vào tay bị hại. Do đó, khi xem xét lượng hình cần áp dụng mức án tương xứng với mức độ, hành vi của bị cáo gây ra, để đủ tác dụng răn đe, giáo dục cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Với tính chất, mức độ hành phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo nhận thức được hành vi sai trái, khắc phục, sửa đổi bản thân. Bên cạnh đó bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xem xét cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt của khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là phù hợp khi lượng hình cho bị cáo. Qua đó nhằm đảm bảo tính nghiêm minh nhưng cũng có tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo an tâm cải tạo, sớm tái hòa nhập cộng đồng.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự ghi nhận việc bị hại và bị cáo thống nhất thỏa thuận các khoản bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bị hại với tổng số tiền là 65.000.000 đồng và đã thực hiện bồi thường xong trong quá trình điều tra là phù hợp. Bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy những vật chứng, đồ vật sau do đã cũ, đã hư hỏng, không còn giá trị sử dụng và chủ sở hữu không yêu cầu nhận lại: 01 con dao có tổng chiều dài 81cm, nặng 083kg; lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 53cm, lưỡi dao có một mặt sắc, rộng nhất 6,7cm, hẹp nhất 2,7cm, mũi nhọn; cán dao bằng gỗ dạng hình trụ tròn đường kính 3,5cm, dài 28cm. 01 cây cơ bida bằng gỗ, bị gãy làm 02 đoạn, một đoạt dài 69,20cm và đoạn còn lại dài 77cm.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn T phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.

[9] Luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đề nghị mức hình phạt, đề nghị xử lý vật chứng là thỏa đáng và phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 (theo điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự ghi nhận việc bị hại và bị cáo thống nhất thỏa thuận các khoản bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với tổng số tiền là 65.000.000 đồng và đã thực hiện bồi thường xong trong quá trình điều tra. Bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết

3. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 bộ luật Hình sự và Điều 106 Điều Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao có tổng chiều dài 81cm, nặng 083kg; lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 53cm, lưỡi dao có một mặt sắc, rộng nhất 6,7cm, hẹp nhất 2,7cm, mũi nhọn; cán dao bằng gỗ dạng hình trụ tròn đường kính 3,5cm, dài 28cm. 01 cây cơ bida bằng gỗ, bị gãy làm 02 đoạn, một đoạt dài 69,20cm và đoạn còn lại dài 77cm.

Các vật chứng trên đang được tạm gửi tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T theo Quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKS ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án buộc bị cáo Lê Văn T phải nộp án phí hình sự 200.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tòa án tống đạt bản án hợp lệ

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Thạnh Phú;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Công an huyện Thạnh Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Phú;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã Giao Thạnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Võ Thị Hồng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Thiểu phạm tôi cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger