Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HSST

Ngày 08/5/2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Khảnh và ông Nguyễn Văn Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thái – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Lê Huy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (điểm cầu trung tâm) và tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (điểm cầu thành phần) xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 127/2024/TB-TA ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K (tên gọi khác: B), sinh ngày 02/7/1988; Nơi cư trú: Khu phố E, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông (không xác định) và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1967; Gia đình có có năm chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

* Người làm chứng: (Tham dự tại điểm cầu trung tâm)

- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Khu phố D, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Chị Trần Thị Mỹ C1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Khu phố C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Văn K đi bộ đến đường Q thuộc khu phố C, phường H, thị xã Đ đón xe khách vào khu vực Lầu B thuộc phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa gặp một người đàn ông (chưa rõ lý lịch) mua 18 bì ma túy với giá 500.000 đồng, rồi đón xe khách về thị xã Đ.

Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, Công an thị xã Đ phối hợp với Công an phường H, thị xã Đ tuần tra kiểm soát trên các tuyến đường phát hiện K đi bộ trên đường L thuộc khu phố C, phường H, thị xã Đ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, bắt quả tang trong túi áo khoác của K đang mặc trên người có 18 bì nilon trong suốt nhiều màu, hàn kín, bên trong có chứa chất bột màu trắng và tinh thể màu trắng. K khai nhận chất bột màu trắng và tinh thể màu trắng trong bì nilon là ma túy H và ma túy đá.

Tại Bản kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận: Chất bột màu trắng dạng nén trong 14 bì nilon hàn kín do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,863 gam, loại Heroin. Tinh thể màu trắng nghiền mịn do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,018 gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án đang tạm giữ: 0,702 gam Heroin (khối lượng còn lại sau giám định); 01 điện thoại di động OPPO A83, màu vàng.

Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKSĐH ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt; về vật chứng đề nghị trả lại 01 điện thoại di động OPPO A83, màu vàng vì đây là tài sản riêng không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa luận tội: giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 0,702 gam Heroin (khối lượng còn lại sau giám định). Hoàn trả lại cho bị cáo K 01 điện thoại di động OPPO A83, màu vàng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án những người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.

[3] Về hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và phù hợp với vật chứng thu giữ được. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 15/01/2024, tại khu phố C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 chất ma túy loại Heroin và Methamphetamine với tổng khối lượng 0,881g để sử dụng, bị Công an thị xã Đ phát hiện bắt quả tang. Cáo trạng số 14/CT-VKSĐH ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

3

[5] Về hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán, vì ma túy gây tác hại xấu đến sức khỏe của con người, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 15/3/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; ngày 22/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa (nay là thị xã Đ) tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù lại không tu dưỡng rèn luyện, làm ăn lương thiện trở thành công dân có ích cho xã hội mà còn tiếp tục hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nên áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7.1] Tịch thu tiêu hủy: 0,702 gam Heroin (còn lại sau giám định).

[7.2] Trả lại cho chủ sở hữu tài sản không phải vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội: Hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K 01 điện thoại di động OPPO A83, màu vàng.

[8] Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông có hành vi bán ma túy cho K chưa rõ lý lịch, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

4

  1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2024.
  2. Về biện pháp tư pháp:
    • - Tịch thu tiêu hủy 0,702 gam Heroin (còn lại sau giám định).
    • - Hoàn trả cho Nguyễn Văn K 01 điện thoại di động OPPO A83, màu vàng, kiểu máy CPH1729; số sêri BASC9IGI89MZEM4S; số IMEI1: 867609030419337; số IMEI2: 867609030419329, có gắn thẻ sim 0935934834.
    • (Các đặc điểm của vật chứng được mô tả theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa ngày 29 tháng 3 năm 2024).
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND thị xã Đông Hòa;
  • - Công an thị xã Đông Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Đông Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thành Hưng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HSST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 17/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger