Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 17/2024/HSPT

Ngày: 11/01/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương

Các thẩm phán: Bà Võ Thị Thanh Phượng

Bà Nguyễn Thị Ngọc Trí

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Út– Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên– Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 389/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn C có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Văn C1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh năm 1983 tại Quảng Bình.

Nơi cư trú: Ấp V, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.

Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Làm thuê.

Con ông: Nguyễn Văn C2, sinh năm 1943 và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1951.

Gia đình có 07 anh em; bị cáo là con thứ năm.

Vợ: Hoàng Thị V, sinh năm 1982; Có 04 con (lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2012).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 07/12/2022 cho đến nay – Có mặt.

Bị hại: Lê Ngọc T1, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Quốc T2, sinh năm 2000.
  2. Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

  3. Nguyễn Văn N, sinh năm 1975.
  4. Địa chỉ: Ấp V, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

  5. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1982.
  6. Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt; những người tham gia tố tụng khác do không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 24/9/2022, anh Lê Ngọc T1 ngồi nhậu cùng với anh Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn Đ và M (không rõ lai lịch) tại chòi nhà anh N thuộc ấp V, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai sát với nhà Nguyễn Văn C1 là em ruột của N. Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, khi N, T1, Đ và M đang ngồi nhậu tại chòi thì C1 đi bộ đến chửi T1, Đ và N rồi C1 thách thức N nói “Có tin đánh chết mấy người này không” và C1 cầm nồi cơm ném trúng người Đĩnh rồi C1 tiếp tục nhặt cục gạch 04 lỗ ở ngay tại chòi ném về phía T1 và Đ đang ngồi nhưng không trúng thì mọi người đứng dậy đi về không nhậu nữa. Khi anh T1 đang điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent biển số 60A-820.16 chở Đ về đến ngã ba S, huyện X, tỉnh Đồng Nai thì N gọi điện thoại cho T1 nói quay lại để bàn tiếp công việc ở P nên T1 chạy xe ô tô trên chở Đ cùng quay lại nhà N. Khi đến T1 để xe ô tô ngoài đường trước cửa nhà N rồi T1 và Đ vào hiên nhà N nói chuyện và tiếp tục ngồi nhậu. Tại đây, Đ có gọi em ruột là Nguyễn Quốc T2 đến nhà N chơi. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, T2 cùng với Nguyễn Thị Ngọc T3 (vợ của T2) đi đến nhà Nghị thì C1 qua rủ T2 sang nhà C1 nhậu nhưng T2 từ chối nên C1 đi về. Sau đó, C1 tiếp tục sang nhà N gọi T2 ra ngoài nói “bạn mày qua kìa” thì T2 nói “bạn tôi là ai” rồi C1 xông đến nắm cổ áo đánh T2 và T2 cũng đánh lại C1. Thấy C1 và T2 đánh nhau, Đ và T1 chạy ra can ngăn thì Đ bị C1 dùng tay đấm vào mặt còn T1 thì C1 không đánh trúng. Do bực tức T1 đã lấy cây súng điện để trong túi xách ở ngay hiên nhà N ra đứng đối diện cách C1 01m bắn về phía C1 làm C1 bị thương tích ở vùng ngực. Do bực tức bị T1 gây thương tích nên C1 đã dùng tay và cục gạch đập vỡ kính chắn gió phía trước và kính chắn gió phía sau xe ô tô xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent biển số 60A-820.16 của T1.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐĐG ngày 17/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện X, kết luận: Giá trị của 01 kính chắn gió phía trước kích thước 1,4m x 0,8m đã qua sử dụng là 8.100.000 đồng và 01 kính chắn gió phía sau kích thước 1,2m x 0,7m đã qua sử dụng là 4.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng, thiệt hại là 12.600.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 6577/C09B ngày 21/12/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C4, cấp cho Nguyễn Văn C1 kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • 01 sẹo vùng cổ (P), nhỏ, mờ.
    • 01 sẹo vùng ngực (P), nhỏ, mờ.
  2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn C1:

Đối chiếu với Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích, Ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28.08.2019 của Bộ trưởng Bộ Y, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn C1 như sau:

  • Sẹo nhỏ vùng cổ (P): 01% (Chương 8, Mục I.1).
  • Sẹo nhỏ vùng ngực (P): 01% (Chương 8, Mục I.1).

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, tại thời điểm giám định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra của ông Nguyễn Văn C1 là: 02% (Hai phần trăm).

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 6581/C09B ngày 21/12/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C4 kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • 01 sẹo vùng cổ (P), nhỏ, mờ.
    • 01 sẹo vùng ngực (P), nhỏ, mờ.
  2. Kết luận:

Các vết sẹo của ông Nguyễn Văn C1 mờ, nhỏ không đủ cơ sở xác định chính xác vật gây thương tích.

Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 4489/KLTTCT-C09B ngày 05/7/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C4, kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • 01 sẹo vùng cổ (P), nhỏ, mờ.
    • 01 sẹo vùng ngực (P), nhỏ, mờ.
    • 02 (hai) mẫu vật bằng kim loại màu đen.
  2. Kết luận:

Các vết sẹo của ông Nguyễn Văn C1 mờ, nhỏ không đủ cơ sở xác định chính xác vật gây thương tích. Không đủ cơ sở xác định 02 mẫu vật gửi giám định gây ra các thương tích của ông Nguyễn Văn C1.

Tại bản Kết luận giám định số 6584/KL-KTHS ngày 19/12/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C4, kết luận:

  • Súng bắn điện gửi giám định không phải là vũ khí quân dụng.
  • Loại súng bắn điện này bắn ra hai điện cực nhỏ giống như hai phi tiêu, được kết nối với bộ phận chính bằng dây dẫn. Khi hai phi tiêu bắn tới cơ thể người sẽ phóng điện áp dạng xung hàng ngàn vôn làm tê liệt tạm thời nạn nhân.

Tại bản Kết luận giám định số 3929/KL-KTHS ngày 23/6/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C4, kết luận: Không

đủ cơ sở xác định hai mẫu vật bằng kim loại gửi giám định có phải do khẩu súng bắn điện gửi giám định đã bắn ra hay không.

Vật chứng vụ án đã thu giữ và xử lý:

  • 01 (một) xe ô tô biển số 60A-82016, nhãn hiệu Huynhdai Accent, màu trắng: Quá trình điều tra xác định, xe ô tô trên có nguồn gốc hợp pháp, thuộc sở hữu của anh Lê Ngọc T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trả lại cho anh T1.
  • 01 thanh kim loại dài khoảng 1,2m. Quá trình điều tra hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp và thanh kim loại trên không liên quan đến hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Cố ý gây thương tích”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X tách ra tiếp tục xác minh đề nghị xử lý sau.
  • 01 (một) súng bắn điện không nhãn hiệu đã qua sử dụng; 02 (hai) mẫu vật kim loại màu đen (không xác định được chủng loại) dài khoảng 1,2 cm, đường kính khoảng 01mm (một đầu nhọn) và 01 (một) USB chứa nội dung đoạn video clip ghi lại hình ảnh gắp hai mẫu vật bằng kim loại nêu trên ra khỏi vết thương trên người Nguyễn Văn C1. Quá trình điều tra xác định đây không phải là vật chứng của vụ án “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X tách ra để xử lý theo quy định.

Trách nhiệm dân sự:Bị hại Lê Ngọc T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về mặt dân sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 140/2023/HSST ngày 28/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Cường 08(tám) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 31/7/2023, bị cáo Nguyễn Văn C3 cáo được hưởng án treo.

-Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

Về tố tụng: Bị cáo làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đúng nội dung, hình thức đơn kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, vai trò, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ nên xử phạt bị cáo 08 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là giấy xác nhận có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình bị cáo có 02 con gái bị bệnh tim bẩm sinh. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/9/2022, tại ấp V, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; do mâu thuẫn nên Nguyễn Văn C1 đã có hành vi dùng tay, gạch đập phá làm vỡ kính chắn gió phía trước và kính chắn gió phía sau xe ô tô nhãn hiệu Huynhdai Accent màu trắng, biển kiểm soát 60A-82016 của anh Lê Ngọc T1 làm tài sản bị hư hỏng, gây thiệt hại là 12.600.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm ngàn đồng). Do đó, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.

Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất mức độ phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo 08 tháng tù là phù hợp quy định pháp luật.

[3] Về nội dung kháng cáo của bị cáo:

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo và cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là giấy xác nhận có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, gia đình bị cáo có 02 con gái bị bệnh tim bẩm sinh. Xét bị cáo nhất thời phạm tội, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị hại cũng có một phần lỗi, đã xin bãi nại và đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo; trong quá trình tại ngoại chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là đủ nghiêm. Vì vậy, xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về án phí:

Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án số 140/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) :

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - TAND huyện;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Phòng PV06-Công an tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Lan Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HSPT ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý làm hư hỏng tài sản)

  • Số bản án: 17/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 31/7/2023, bị cáo Nguyễn Văn Cườngkháng cáo được hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger