|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ TỈNH BẮC KẠN Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 30-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ - TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Huấn và Ông Trần Văn Sinh
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hoàn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thượng và bà Hứa Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Triệu Văn T, sinh ngày 10/7/1989 tại: xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn K, xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn S và bà Triệu Thị D; có vợ là Hà Thị M và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2024 đến nay (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị X - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 12 giờ 35 phút ngày 28/02/2024, tại chợ đầu mối huyện N thuộc tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn tổ công tác Công an huyện N đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự thì phát hiện bắt quả tang Triệu Văn T đang đi bộ trong khu vực chợ gần cổng sau có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ, tạm giữ: trong túi quần đằng sau bên phải T đang mặc trên người thu giữ 01 túi nilon (loại có khóa Zip) bên trong túi này có chứa một gói giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng (loại giấy trong vỏ bao thuốc lá) có chứa chất màu trắng dạng cục lẫn bột, tổ công tác trích một lượng nhỏ chất màu trắng thử phản ứng nhanh với thuốc thử ma túy (thuốc do Bộ C cấp), kết quả xác định là ma túy (heroine), sau đó tổ công tác gói lại như ban đầu và niêm phong trong phong bì ký hiệu A1; tại chiếc áo bên trong sau áo khoác T đang mặc trên người, trong túi áo ngực phía trước bên trái tạm giữ 03 chiếc bơm kim tiêm chưa qua sử dụng, được bọc trong túi nilon (loại túi đựng bơm kim tiêm), tổ công tác niêm phong trong phong bì ký hiệu K1.
Hồi 15 giờ 00 phút ngày 28/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành mở phong bì niêm phong ký hiệu A1, cân xác định khối lượng chất màu trắng dạng cục lẫn bột đã thu giữ trên người T, kết quả số chất màu trắng dạng cục lẫn bột có khối lượng 0,350g (không phẩy ba năm không gam), sau đó tiến hành niêm phong lại số ma túy trong phong bì ký hiệu B1 để gửi trưng cầu giám định.
Hồi 15 giờ 40 phút ngày 28/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N khám xét khẩn cấp chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan của Triệu Văn T tại thôn K, xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, qua khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 97/KL-KTHS ngày 06/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong phong bị ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,350g (không phẩy ba năm không gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại 0,310g (không phẩy ba một không gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T64 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Tại cơ quan điều tra, Triệu Văn T khai nhận: Số ma túy cơ quan Công an thu giữ ngày 28/02/2024 là của T mua về để sử dụng cho bản thân, sáng ngày 28/02/2024 T một mình đi xe ôm từ nhà thuộc xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn đến huyện N, tỉnh Bắc Kạn tìm mua ma túy, đến cổng chợ đầu mối huyện N, T xuống xe mua 03 (ba) chiếc bơm kim tiêm cất giấu trên người mục đích để sử dụng ma túy, sau đó đi đến bến xe khách huyện N thì gặp một người nam giới (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua với người này với số tiền 500.000 đồng, được người nam giới này bán cho 01 gói ma túy, mua xong T cất giấu gói ma túy vào túi quần đang mặc trên người, rồi đi bộ vào chợ đầu mối huyện N tìm người đi nhờ xe về nhà, khi gần đến cổng sau chợ đầu mối thì bị Công an huyện N phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật.
Vật chứng của vụ án gồm:
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T64, bên trong có 0,310g (không phẩy ba một không gam) ma túy (heroine) của Triệu Văn T hoàn trả lại sau giám định cùng phong bì, bao gói cũ;
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có giấy gói, túi nilon, phong bì niêm phong cũ thu giữ của Triệu Văn T;
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K1, bên trong có 03 (ba) chiếc bơm kim tiêm chưa qua sử dụng còn nguyên bao bì.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSNR ngày 03/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, truy tố Triệu Văn T về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều luật có nội dung:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 01 năm đến 05 năm.
a)...
c) Heroine, có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản;".
Tại phiên toà:
- - Bị cáo Triệu Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Triệu Văn T từ 12 đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T64; 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2; 01 phong bì niêm phong ký hiệu K1 bên trong có 03 chiếc bơm kim tiêm chưa qua sử dụng còn nguyên bao bì. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- - Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, là người nghiện ma túy và mục đích bị cáo tàng trữ ma túy là để sử dụng cho bản thân. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu và có thái độ thành khẩn trong quá trình khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, miễn án phí hình sự sơ thẩm và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập đúng trình tự thủ tục Bộ luật tố tụng Hình sự quy định và có giá trị pháp lý làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra và các tài liệu khác đã được cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 35 phút ngày 28/02/2024, tại chợ đầu mối huyện N thuộc tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, Triệu Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy, loại Heroine (H), có khối lượng 0,350g (không phẩy ba năm không gam) mục đích sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan Công an huyện N phát hiện bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ ma túy nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương và phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó, cần phải xử lí bằng pháp luật hình sự và có mức hình phạt tương xưng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự để truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự, tiền án, có nhân thân tốt.
- - Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Triệu Văn S có tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế và được hưởng chế độ trợ cấp một lần, do đó bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề xuất của đại diện Viện kiểm sát và quy định của Bộ luật hình sự, HĐXX thấy rằng: Bị cáo có đầy đủ hiểu biết về tác hại của việc sử dụng chất ma tuý, có đủ khả năng nhận thức về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện ma túy nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần áp dụng một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian có như vậy mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, lao động tự do, không có tài sản riêng, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu T64, bên trong có 0,310g (không phẩy ba một không gam) ma túy (heroine) của Triệu Văn T hoàn trả lại sau giám định cùng phong bì, bao gói cũ; 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có giấy gói, túi nilon, phong bì niêm phong cũ thu giữ của Triệu Văn T; 01 phong bì niêm phong ký hiệu K1, bên trong có 03 (ba) chiếc bơm kim tiêm chưa qua sử dụng còn nguyên bao bì, là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ.
[6]. Về các vấn đề khác: Đối với người nam giới không rõ họ tên, địa chỉ đã bán ma túy cho T ngày 28/02/2024 tại khu vực bến xe khách huyện N, quá trình điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ của người nam giới này, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ điều tra làm rõ, xử lý.
[7]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, nên HĐXX xem xét miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[1]. Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: T1 (Mười tám) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Triệu Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Triệu Văn T.
[2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T64, bên trong có 0,310g (không phẩy ba một không gam) ma túy (heroine) của Triệu Văn T hoàn trả lại sau giám định cùng phong bì, bao gói cũ;
- + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có giấy gói, túi nilon, phong bì niêm phong cũ thu giữ của Triệu Văn T;
- + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K1, bên trong có 03 (ba) chiếc bơm kim tiêm chưa qua sử dụng còn nguyên bao bì.
(Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/5/2024 giữa Công an huyện N với Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Rì).
[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thanh Bình |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ - TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ - TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng
