Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG XUÂN

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày 20/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Long.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Hiền.

Ông Nguyễn Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Trang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện VKSND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Trình Ngọc T - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn S (Tên gọi khác: Sơn Lãi) - Sinh ngày 01/01/1970 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn K, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1941 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1944; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1967, có 04 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 18/9/2018, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000đ về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép (chấp hành xong ngày 19/9/2018). Nhân thân: Ngày 27/8/2020, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 5.000.000 đồng về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép (chấp hành xong ngày 26/01/2021); Ngày 18/01/2021, bị Công an xã X xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (chấp hành xong ngày 18/01/2021); Ngày 27/4/2022, bị TAND huyện Đồng Xuân xử phạt 03 tháng tù về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS (chấp hành xong ngày 27/10/2022).

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Trương Vĩnh P - Sinh ngày 22/6/1983 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn S, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 7/12; con ông Trương Văn L1 (chết) và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1957; Vợ: Hoàng Thị Kim T2, sinh năm 1988, có 01 con sinh năm 2006; tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 18/9/2018, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000đ về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép (chấp hành xong ngày 19/9/2018); Nhân thân: Ngày 27/8/2020, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 5.000.000đ về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép (chấp hành xong ngày 26/01/2021). Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Nguyễn Ngọc N - Sinh năm: 1994; Trú tại: Thôn K, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
  • - Nguyễn Thị T1 - Sinh năm: 1967; Trú tại: Thôn K, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
  • - Võ Minh H - Sinh năm: 1978; Trú tại: Thôn K, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
  • - Đỗ Thái H1 - Sinh năm: 1977; Trú tại: Thôn T, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
  • - Nguyễn Thị C - Sinh năm: 1944; Trú tại: Thôn K, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
  • - Nguyễn Thành L - Sinh năm: 1941; Trú tại: Thôn K, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.

Tất cả vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn S và Trương Vĩnh P mỗi người đều có một tiền sự về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Trong khoảng thời gian từ ngày 19/01/2019 đến ngày 30/7/2019, S và P nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản cụ thể như sau:

- Lần thứ 1: Sáng ngày 19/01/2019, Nguyễn Văn S trực tiếp đến thôn P- xã X- huyện Đ mua 25 cây Cồng tía không có hồ sơ lâm sản hợp pháp của một số người dân với số tiền 6.250.000 đồng. Đến khoảng 12h30' cùng ngày, S thuê Trương Vĩnh P điều khiển xe ô tô tải BKS: 78C- 058.25 vận chuyển 25 cây Cồng tía đến huyện T để bán. Đi cùng trên xe có Nguyễn Thị T1 (vợ của S) và Võ Minh H (phụ xe). Khi P điều khiển xe đến thôn P- xã X- huyện Đ thì bị Công an huyện Đ phát hiện xử lý hành chính đối với P và S mỗi người 1.000.000 đồng tại các Quyết định số 39304, 39305 ngày 25/01/2019 (cả hai chấp hành xong ngày 25/01/2019).

- Lần thứ 2: Ngày 02/4/2019, một người đàn ông (không rõ nhân thân) gọi điện thoại cho Nguyễn Văn S đặt mua 10 cây gỗ xẻ và thống nhất địa điểm giao cây tại xã X- huyện Đ. S đồng ý rồi đến làng S- thuộc thôn P để mua 10 cây gỗ xẻ (0.310 m³) không có hồ sơ lâm sản hợp pháp của một số người dân với giá 1.700.000 đồng. Đến khoảng 09h00' ngày 04/4/2019, S thuê Trương Vĩnh P điều khiển xe ô tô tải BKS: 78C- 058.25 vận chuyển 10 cây gỗ xẻ đến xã X. Đi cùng trên xe có Nguyễn Thị T1. Khi P điều khiển xe đến thôn T- xã X- huyện Đ thì bị Công an huyện Đ phát hiện xử lý hành chính đối với S và P mỗi người 5.000.000 đồng tại các Quyết định số 39333, 39336 ngày 22/4/2019 (cả hai chấp hành xong ngày 04/5/2019).

- Lần thứ 3: Từ ngày 10/4/2019 đến ngày 15/4/2019, Nguyễn Văn S mua 81 cây Cồng tía không có hồ sơ lâm sản hợp pháp của một số người dân tại xã P. Tối cùng ngày, S thuê Nguyễn Ngọc N, Trương Vĩnh P và Võ Minh H cùng nhau vận chuyển 81 cây Cồng tía từ khu vực nhà máy T5 thuộc thôn P- xã P đến phường X- thị xã S để bán cho một người phụ nữ tên T3 (không rõ nhân thân). Trong đó, N có nhiệm vụ lái xe còn P, H theo xe để bốc cây xuống xe giao cho T3. Đến khoảng 04h00' ngày 16/4/2019, N điều khiển xe ô tô tải BKS: 78C-079.49 chở P, H cùng 81 cây Cồng tía đi đến thị xã S để giao cho T3. Khi N điều khiển xe đến thôn X- xã X thì bị Công an huyện Đ phát hiện xử lý hành chính đối với S số tiền 20.000.000 đồng, đối với N số tiền 10.000.000 đồng tại các Quyết định số 39338, 39339 ngày 08/5/2019 (cả hai chấp hành xong ngày 22/5/2019).

- Lần thứ 4: Ngày 25/7/2019, Nguyễn Văn S ký hợp đồng thuê Trương Vĩnh P điều khiển xe ô tô tải BKS: 78C - 079.49 vận chuyển hàng hóa, nông sản cho S (hợp đồng được chứng thực bởi UBND xã X- huyện Đ). Khoảng 20h00' ngày 29/7/2019, sau khi chở hàng hóa đến xã P- huyện Đ, P một mình điều khiển xe ô tô tải đi về xã X thì có một người đàn ông tên T4 (không rõ nhân thân) gặp P và thuê P chở 70 cây Cồng tía không có hồ sơ lâm sản hợp pháp từ thôn P đến huyện T với giá thuê 1.000.000 đồng, P đồng ý. Sau đó, người đàn ông này dẫn P đến thôn P thì có một số người dân trực tiếp bốc xếp 70 cây Cồng tía lên xe ô tô tải. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 30/7/2019, T4 điều khiển xe mô tô (không xác định biển số) đi trước dẫn đường, còn P trực tiếp điều khiển xe ô tô tải BKS: 78C- 079.49 chở 70 cây Cồng tía đi sau. Khi P điều khiển xe đến thôn K- xã X bị Công an huyện Đ phát hiện xử lý hành chính đối với P số tiền 15.000.000 đồng tại Quyết định số 7753 ngày 06/8/2019 (chấp hành xong ngày 07/8/2019)

Các ngày 15/6/2022, 20/6/2024 và 27/6/2024, Công an huyện Đ ra Quyết định số 63, 64, 88, 89, 90, 91 hủy bỏ các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39304, 39305, 39333, 39336, 39339, 7753.

Đến ngày 20/8/2020, thời điểm này S và P đã đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm cụ thể: Khoảng 08h00' ngày 20/8/2020, Đỗ Thái H1 thuê Nguyễn Văn S chở 20 cây Sổ Bà không có hồ sơ lâm sản hợp pháp từ thôn P đến thôn T- xã X. Đến khoảng 12h00' cùng ngày, S thuê Trương Vĩnh P điều khiển xe ô tô tải BKS: 78C- 079.49 chở số cây này đi cùng Nguyễn Thị T1 để giao cho H1. Khi đến thôn T- xã X- huyện Đ thì bị Công an huyện Đ phát hiện xử lý hành chính đối với S và P mỗi người 5.000.000 đồng tại các Quyết định số 7780, 7781 ngày 27/8/2020 (cả hai chấp hành xong ngày 26/01/2021).

Tại các Bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-ĐGTTHS ngày 09/6/2022, số 06/KL-ĐGTTHS ngày 03/4/2024, số 15/KL-ĐGTTHS ngày 28/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 25 cây tròn trong vụ việc xảy ra ngày 19/01/2019 có giá trị 3.000.000 đồng, 10 thanh gỗ xẻ trong vụ việc xảy ra ngày 04/4/2019 có giá trị 1.085.000 đồng, 81 cây Cồng tía trong vụ việc xảy ra ngày 16/4/2019 có giá trị 14.580.000 đồng, 70 cây Cồng tía trong vụ việc xảy ra ngày 30/7/2019 có giá trị 10.500.000 đồng.

Tại các văn bản số 276/HKL ngày 23/9/2022, số 131/HKL ngày 08/4/2024, số 198/HKL ngày 29/5/2024 của Hạt kiểm lâm huyện Đ thể hiện: 25 cây tròn trong vụ việc ngày 19/01/2019, 81 cây tròn trong vụ việc ngày 16/4/2019, 70 cây tròn trong vụ viêc ngày 30/7/2019 không đủ tiêu chí để gọi là gỗ; 10 thanh gỗ xẻ trong vụ việc ngày 04/4/2019 đủ tiêu chí là gỗ; các cây tròn và thanh gỗ xẻ nêu trên không thuộc danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; không phải là cây rừng trồng hoặc cây trồng phân tán.

Tại bản Cáo trạng số: 15/CT-VKS-ĐX ngày 25/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy các bị cáo Nguyễn Văn Sơn, Trương Vĩnh Phú về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 BLHS.

* Kiểm sát viên luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đã nêu. Kết luận các bị cáo Nguyễn Văn S, Trương Vĩnh P phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét:

- Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Văn S, Trương Vĩnh P; bị cáo P còn được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 70.000.000₫ đến 80.000.000đ; xử phạt bị cáo Trương Vĩnh P từ 50.000.000đ đến 60.000.000₫.

* Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, các bị cáo không tranh luận gì, xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng xét thấy họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 BLTTHS.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và các vật chứng thu giữ được, đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn S và Trương Vĩnh P mỗi người đều có một tiền sự về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Trong các ngày 19/01/2019, 04/4/2019, 16/4/2019 và 30/7/2019 tại huyện Đ- tỉnh Phú Yên, S, P đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật đối với 0.310 m³ gỗ thông thường trị giá 1.085.000 đồng và loài thực vật rừng ngoài gỗ trị giá 28.080.000 đồng, nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 15/CT-VKS-ĐX ngày 25/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng, ảnh hưởng xấu đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái. Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, trong đó bị cáo S là người trực tiếp thu mua và thuê P vận chuyển lâm sản trái phép để thu lợi bất chính. Do đó, cần xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo có vai trò tích cực hơn nên mức án của bị cáo phải cao hơn bị cáo P. Đối với Trương Vĩnh P: Bản thân bị cáo P cũng là người có nhân thân xấu, cũng từng bị xử lý hành chính. Trong vụ án này, khi được S thuê vận chuyển lâm sản, P biết rõ lâm sản này không có hồ sơ hợp pháp nhưng vì mục đích thu lợi bất chính, bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cũng cần xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo S tự nguyện sung công quỹ Nhà nước số tiền 26.000.000đ, bị cáo P tự nguyện sung công quỹ Nhà nước số tiền 21.000.000₫ đã bị xử phạt hành chính trong các lần vi phạm để khắc phục hậu quả; bị cáo S có cha mẹ ruột là ông Nguyễn Thành L và bà Nguyễn Thị C đều là người có công với cách mạng, là thương binh hạng ¼; bị cáo P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tình tiết đã bị xử phạt vi phạm hành chính đã được sử dụng để định tội đối với các bị cáo; lâm sản các bị cáo vận chuyển, mua bán không thuộc danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm. Ngoài ra, các bị cáo phạm tội một phần cũng do thiếu hiểu biết pháp luật, lúc phạm tội chưa nhận thức được hành vi của mình đã vi phạm pháp luật hình sự. Các bị cáo không trực tiếp khai thác cây rừng, không đặt hàng trước để người khác khai thác cây rừng mà mua lại cây đã bị khai thác của những người đồng bào dân tộc thiểu số và vận chuyển để thu lợi. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có khả năng tự cải tạo, nên chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tiền quy định tại điều 35 BLHS vừa đảm bảo việc thu nộp ngân sách nhà nước, vừa có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[4] Đối với hành vi của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Đối với Nguyễn Thị T1, Nguyễn Ngọc N, Võ Minh H và Đỗ Thái H1: Hành vi của T1, N, H tham gia vào quá trình vận chuyển lâm sản trái phép với Nguyễn Văn S và hành vi của Đỗ Thái H1 thuê Nguyễn Văn S vận chuyển lâm sản trái phép là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, trị giá thực vật rừng ngoài gỗ, khối lượng gỗ dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và không có yếu tố định tội khác nên hành vi không cấu thành tội phạm. Do đó, Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với N là đúng pháp luật. Đối với T1, H và H1 do đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, nên không cơ cơ sở để xử lý.
  • - Đối với các đối tượng mua, bán lâm sản và những nhân công tham gia bốc xếp lâm sản trái phép cho Nguyễn Văn S: Do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn S, Trương Vĩnh P phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

  1. Về hình phạt:

Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Văn S, Trương Vĩnh P; bị cáo P còn được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
  • - Xử phạt bị cáo Trương Vĩnh P 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
  1. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Văn S, Trương Vĩnh P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

  • - TAND tỉnh Phú Yên (P.KT-NV);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - Công an huyện Đ;
  • - CC THADS huyện Đ;
  • - Những người tham gia tố tụng;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Trần Vĩnh Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger