|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 17/2024/HS-ST Ngày 24-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HÒ, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Đình Ry và ông Nguyễn Văn Thức.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 24/6/2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 31/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 10/6/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Duy K;
sinh năm 2004, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Tổ dân phố E, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; cha, mẹ ruột: Không xác định; mẹ nuôi: Bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Hiện đang bị tạm giam – có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Cao Quang Khánh H, sinh năm 1999 – vắng mặt.
- Anh Võ Quốc P, sinh năm 2004 – có mặt.
- Anh Đặng Gia L1, sinh năm 2001 – có mặt.
- Chị Võ Thị Thu L2, sinh năm 1998 – vắng mặt.
Nơi cư trú: Số C đường T, tổ dân phố E, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Số A đường T, tổ dân phố F, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Tổ dân phố F, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Quang P1, sinh năm 2001 – vắng mặt
- Anh Trần Đăng Thanh T, sinh năm 2001 – có mặt.
- Anh Võ Phát H1, sinh năm 2004 – có mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Số F đường N, tổ dân phố E, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Số F đường N, tổ dân phố E, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Duy K là người nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 23/02/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Wayxin, màu nâu, biển số 47L8-3119 của bà Nguyễn Thị L (là mẹ nuôi của K) đi từ thị xã B đến thành phố B để mua ma tuý (loại cần sa) và giấy cuốn để về hút. Khi đi đến đoạn đường Y, thành phố B, bị cáo ghé vào một quầy bán thuốc lá di động không nhớ địa điểm và gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua giấy OCB dùng để cuốn thuốc lá hút thì người này đồng ý và lấy trong quầy thuốc ra đưa cho bị cáo 01 hộp giấy màu đen, có chữ OCB, bên trong hộp có nhiều mảnh giấy mỏng, bị cáo trả cho người này 30.000 đồng. Sau khi mua được giấy cuốn thuốc, bị cáo tiếp tục đi đến quán cà phê “Sớm” địa chỉ D đường A, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và gặp một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch), đang ngồi ở trong quán, người này gọi bị cáo lại nói chuyện, trong lúc nói chuyện người này lấy từ trong túi xách đang đang đeo trên người ra một gói nylon bên trong có chứa ma túy (cần sa) để chào bán, thì bị cáo hỏi “Bao nhiêu tiền” người này trả lời 750.000 đồng, bị cáo đồng ý mua và trả cho người này số tiền 750.000 đồng và lấy cần sa cất vào trong túi quần, sau đó điều khiển xe mô tô đi về lại trung tâm thị xã B. Do có hẹn nhậu với bạn từ trước nên khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo gọi điện thoại rủ Võ Quốc P, sinh năm 2004 đến nhà anh Cao Quang Khánh H, trú tại C T, tổ dân phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, để nhậu. Sau đó K đi đến nhà anh H, đến nơi thấy anh H cùng với Nguyễn Quang P1, sinh năm 2001; Đặng Gia L1, sinh năm 2001; Võ Phát H1, sinh năm 2004; Trần Đăng Thanh T, sinh năm 2001, đang ngồi nhậu nên K vào nhậu cùng. Nhậu được một lúc, thì có P điều khiển xe mô tô 47B2-879.84 đi đến nhà anh H cùng vào nhậu. Trong lúc ngồi nhậu K lấy trong túi quần ra 01 gói cần sa đã mua từ trước và nói “Em mới lấy được ít đồ về, mọi người cùng hút nói chuyện cho vui”, thì có L1 và P đồng ý hút. Nhưng do anh H có con nhỏ nên anh H nói “Không được hút ở đây”, thì K không nói gì, sau đó anh H vào trong phòng giữ con cho vợ đi tắm, còn K lấy một tờ giấy OCB và một ít Cần sa ra đặt vào trong tờ giấy rồi cuộn lại thành một
điếu Cần sa có hình dạng giống như một điếu thuốc lá, số Cần sa còn lại K cất giấu trong chậu hoa Cúc ở gần khu vực ngồi nhậu. Sau khi cuốn xong điếu Cần sa K, P và L1 đi ra góc sân gần cổng nhà của anh H cách địa điểm ngồi nhậu khoảng 3m đến 4m, K dùng bật lửa màu đỏ đã chuẩn bị sẵn châm lửa đốt điếu Cần sa và hút 02 hơi, rồi chuyển cho L1 hút 02 hơi, sau đó L1 đưa cho P hút 02 hơi, thì P đưa điếu cần Sa lại cho L1 và L1 đưa cho K, nhưng do đã hút hết nên K vứt bỏ rồi cả ba người đi vào tiếp tục nhậu với mọi người. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi K đang ngồi nhậu cùng với mọi người, thì bị lực lượng Công an phường A kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội.
Bản kết luận giám định số 334/KL-KTHS ngày 01 tháng 03 năm 2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu thực vật khô bên trong 01 gói nilon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,7273 gam, loại C.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu ngày 24/02/2024, của Bệnh viện đa khoa thị xã B, kết luận: Võ Quốc P, Đặng Gia L1 và Nguyễn Duy K dương tính với chất ma túy Test Marijuana (C).
Kết quả xét nghiệm nước tiểu ngày 24/02/2024, của Bệnh viện đa khoa thị xã B, kết luận: Nguyễn Quang P1, Võ Phát H1, Cao Quang Khánh H, Trần Đăng Thanh T, âm tính với chất ma túy.
Tại Công văn số 152 ngày 07/5/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh Đ trả lời về Kết quả trích xuất dữ liệu trong Camera cho thấy: Không xác định được từ trước đến nay Camera nhãn hiệu Yoosee có kết nối với điện thoại di động Iphone, số IMEI 355431079270458; Không có thiết bị lưu trữ (thẻ nhớ) trong Camera nhãn hiệu Yoosee.
Vật chứng vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B điều tra thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang gồm: 01 gói Nilong trong suốt bên trong có chứa hỗn hợp thực vật khô là ma túy, có khối lượng 3,7273 gam, loại Cần Sa; 01 hộp giấy màu đen, bên trong hộp có nhiều mảnh giấy mỏng.
Vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ trong quá trình điều tra gồm: 01 Camera nhãn hiệu Yoosee Wifi 5.0Mpx màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, IMEI 355431079270458.
Bản cáo trạng số 19/CT-VKSBH ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ giữ quyền công tố trình bày luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng số 19/CT-VKSBH ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K từ 07 năm đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 24/02/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói Nilong trong suốt bên trong có chứa hỗn hợp thực vật khô là ma túy, có khối lượng 3,7273 gam, loại Cần Sa; 01 hộp giấy màu đen, bên trong hộp có nhiều mảnh giấy mỏng.
Trả lại 01 Camera nhãn hiệu Yoosee Wifi 5.0Mpx màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, IMEI 355431079270458 cho chị Võ Thị Thu L2 là chủ sở hữu hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với hành vi mà nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy K khai nhận phù hợp với hành vi mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ truy tố.
Bị cáo thừa nhận vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/02/2024, tại khu vực sân nhà anh Cao Quang Khánh H địa chỉ C T, tổ dân phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo Nguyễn Duy K đã có hành vi tổ chức cho Võ Quốc P và Đặng Gia L1 sử dụng trái phép chất ma túy, loại Cần sa.
Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào,...;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Đối với 02 người trở lên”.
[3] Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Nhà nước nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chứa chấp, sử dụng, tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, hành vi phạm tội là nguyên nhân làm phát sinh những loại tội phạm khác như cướp tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản.... nhưng bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra, bản thân bị cáo từ khi sinh ra không có cha mẹ đẻ, được bà Nguyễn Thị L mang về chăm sóc nuôi dưỡng, hiện bị cáo sống cùng mẹ nuôi và ông ngoại (là cha đẻ của mẹ nuôi hiện đã già yếu 91 tuổi), bản thân bị cáo là lao động chính trong nhà do mẹ nuôi bị bệnh tật không lao động được; mẹ nuôi bị cáo được tặng thưởng nhiều giấy khen, huy chương vàng của Bộ V-Thông tin và Cục Đ trao tặng trong quá trình công tác. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét tính chất vụ án, tính chất hành hành vi, nhân thân các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần giáo dục phòng ngừa tội phạm chung và riêng trong toàn xã hội là phù hợp.
[7] Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tại phiên tòa đề nghị về tội danh, hình phạt, về xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng:
[8.1] Đối với 01 gói Nilong trong suốt bên trong có chứa hỗn hợp thực vật khô là ma túy, có khối lượng 3,7273 gam, loại Cần Sa; 01 hộp giấy màu đen, bên trong hộp có nhiều mảnh giấy mỏng, đây là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8.2] Đối với 01 Camera nhãn hiệu Yoosee Wifi 5.0Mpx màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, IMEI 355431079270458 là tài sản của chị Võ Thị Thu L2 không liên quan đến việc phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L2 là phù hợp.
[9] Về các vấn đề khác:
[9.1] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông bán giấy OCB để bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh làm rõ nhân thân lai lịch nhưng chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ nếu có đủ căn cứ thì xử lý sau.
[9.2] Đối với chiếc bật lửa “Bic màu đỏ” bị cáo K sử dụng vào việc phạm tội, sau khi sử dụng đã bị thất lạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy, không thu giữ được nên không đề cập xử lý là phù hợp.
[9.3] Đối với chiếc xe mô tô chiếc xe mô tô nhãn hiệu: WAYXIN, màu nâu, biển số 47L8-3119 là của bà Nguyễn Thị L, mẹ nuôi bị cáo. Việc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội bà L không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ là có căn cứ.
[9.4] Đối với Đặng Gia L1 và Võ Quốc P là người sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả xét nghiệm “dương tính" với chất ma túy (loại cần sa). L1 và P chỉ sử dụng ma túy khi K tổ chức nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý L1 và P với vai trò đồng phạm mà ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Đặng Gia L1 và Võ Quốc P là có căn cứ.
[9.5] Đối với anh Cao Quang Khánh H và chị Võ Thị Thu L2 là người quản lý căn nhà mà bị cáo dùng làm địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên khi K có ý định tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nơi ở của mình anh H không cho. Sau đó K tự ý tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thì anh H và chị L2 cũng không biết, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ.
[9.6] Đối với Nguyễn Quang P1, Võ Phát H1, Cao Quang Khánh H, Trần Đăng Thanh T, đều có kết quả xét nghiệm âm tính với chất ma túy, quá trình điều tra xác định những người này không có hành vi sử dụng hay giúp sức gì cho K trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời cũng không biết rõ K tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B không đề cập xử lý là có căn cứ.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
[1] Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 07 (B) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 24/02/2024.
[2] Về xử lý vật chứng:
[2.1] Tịch thu tiêu hủy: 01 gói Nilong trong suốt bên trong có chứa hỗn hợp thực vật khô là ma túy, có khối lượng 3,7273 gam, loại C được niêm phong trong một phong bì ghi “BỘ CÔNG AN CÔNG AN TỈNH ĐẮK LẮK, số...../......kính gửi: Bao gói dung để niêm phong mẫu vật ban đầu vụ Nguyễn Duy K” đã được niêm phong có chữ ký ghi tên: Đinh Văn H2 (01 chữ ký); Nguyễn Bá H3 (01 chữ ký) và đóng 03 (ba) hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ; 01 hộp giấy màu đen, bên trong hộp có nhiều mảnh giấy mỏng.
(Vật chứng có đặc điểm cụ thể như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ ngày 04/6/2024).
[2.2] Trả lại cho chị Võ Thị Thu L2 01 Camera nhãn hiệu Yoosee Wifi 5.0Mpx màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, IMEI 355431079270458 theo Quyết định xử lý vật chứng số 656/QĐ-MT và biên bản về việc trả lại tài sản ngày 23/5/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã B.
[3] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Duy K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Khanh |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/02/2024, tại khu vực sân nhà anh Cao Quang Khánh H . Bị cáo Nguyễn Duy K đã có hành vi tổ chức cho Võ Quốc P và Đặng Gia L1 sử dụng trái phép chất ma túy, loại Cần sa
