Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày 24 - 4 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Nam;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thị Đào;

2. Ông Nông Văn Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Vũ Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Miền – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện P và Điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện P Tòa án xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS, ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Tuấn M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 21/09/2000;

Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12;

Họ tên mẹ: Bùi Thị H, sinh năm 1968. Họ tên bố: Không.

Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện P. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người chứng kiến: Anh Nịnh Văn L, sinh năm 1961, địa chỉ: Xóm C, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 10 phút ngày 16/01/2024 tổ công tác Công an xã Y làm nhiệm vụ tại khu vực xóm C, xã Y, huyện P, T Bùi Tuấn M có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Tại đây, M đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng hồng và 02 viên nén màu hồng, M khai là ma túy tổng hợp, vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Tuấn M thu giữ niêm phong số ma túy nêu trên của M theo quy định (ký hiệu bì niêm phong L1) đồng thời chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT công an huyện P để điều tra giải quyết theo thẩm quyền

Hồi 18 giờ cùng ngày tại phòng K công an tỉnh T, các thành phần theo quy định đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng và lấy gửi mẫu giám định đối với số ma túy thu giữ của Bùi Tuấn M trong bì ký hiệu L1: Chất tinh thể rắn màu trắng hồng có khối lượng 0,173 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu bì A1); 02 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,178 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu bì A2).

Tại bản kết luận giám định chất ma túy số: 246/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T kết luận: Chất tinh thể rắn màu trắng hồng trong bì ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,173 gam; 02 viên nén màu hồng trong bì ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,178 gam.

Quá trình điều tra làm rõ như sau: Bùi Tuấn M là người nghiện ma túy, khoảng 10 giờ ngày 16/01/2024, M một mình từ nhà đi nhờ xe ôm của một người đi đường không quen biết đến khu vực bến xe khách T để mua ma túy tổng hợp về sử dụng. Tại đây, M gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng hồng và 02 viên nén màu hồng với giá 500.000 đồng. M cất gói ma túy vừa mua được vào túi áo phía trước rồi đi xe buýt đến khu vực huyện P chơi. Khi đến khu vực thuộc xóm C, xã Y, huyện P, M xuống xe định tìm nơi sử dụng ma túy, thì bị công an xã Y kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số ma túy M chưa sử dụng.

Tại Cơ quan CSĐT và tại phiên tòa Bùi Tuấn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định chất ma túy, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

2

Tại bản cáo trạng số 14/CT- VKSP ngày 31/3/2024, Viện Kiểm sát nhân huyện P truy tố bị cáo Bùi Tuấn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P trình bầy lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn M - phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản1, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Bùi Tuấn M, từ 18 đến 24 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không đề nghị.

Về vật chứng: căn cứ Điều 47 BLHS Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng là ma túy và vỏ giấy gói.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Phần tranh tụng: Không có ý kiến tranh tụng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật xin HĐXX cân nhắc cho bị cáo mức án nhẹ để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi của bị cáo: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ căn cứ để xác định: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 16/01/2024, tại xóm C, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Tuấn M có hành vi tàng trữ trái phép 0,351 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác của công an xã Y, huyện P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông không quen biết, tại khu vực B thành phố T. Sau đó bắt xe buýt đến khu vực xã Y, huyện P để tìm nơi sử dụng thì bị bắt giữ.

3

Do đó, bản Cáo trạng số 14 ngày 31/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Bùi Tuấn M về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a).....

c, Methamphetamine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

[3] Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện ma túy.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS là người phạm tội thành khẩn khai báo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo nếu không ngăn chặn sẽ gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, nên cần phải xử bị cáo mức án tù nghiêm khắc cách ly xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản riêng, hiện đang bị giam giữ, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6] Vật chứng vụ án: Số vật chứng là ma túy và vỏ giấy gói cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.

[9] Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của người không quen biết Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý.

4

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

1.Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tuấn M - phạm tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự .

Xử phạt: Bị cáo Bùi Tuấn M, 24 (Hai mươi bốn) tháng tù

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2024.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,080 gam mẫu Al và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,085 gam mẫu A2 và vỏ bao gói mẫu A2; 01 bì niêm phong ký hiệu A3, bên ngoài ghi: Bên trong có vỏ bì niêm phong L1 và túi nilong mầu trắng.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận số 28/2024 ngày 19/4/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện P).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Tuấn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện P;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Cơ quan THAHS - Công an tỉnh TN;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh TN;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hồng Nam

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 16/01/2024, tại xóm C, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Tuấn M có hành vi tàng trữ trái phép 0,351 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác của công an xã Y, huyện P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông không quen biết, tại khu vực B thành phố T. Sau đó bắt xe buýt đến khu vực xã Y, huyện P để tìm nơi sử dụng thì bị bắt giữ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger