Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày: 29/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Ngọc Minh.
  2. Bà Lê Thị Hường.

-Thư ký phiên tòa: Lương Nữ Vân Kiều –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hằng –Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/HSST ngày 27/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 08/5/2024 đối với các bị cáo:

1. Đào Duy T, sinh ngày: 20/4/2000 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào R và bà Nguyễn Thị L; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 02/11/2023 đến ngày 11/11/2023 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Văn L1, sinh ngày: 19/4/2005 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị T1; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 31/10/2023, Nguyễn Văn L1 bị Toà án huyện N ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 12 ngày 31/10/2023. Nhân thân:+ Ngày 27/01/2023, bị Công an xã P ra Quyết định xử phạt hành chính số 0000735/QĐ-XPHS với số tiền 750.000₫ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. + Ngày 27/01/2023 bị UBND xã P ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý. + Ngày 22/02/2023 bị Công an xã P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000746/QĐ-XPHS với số tiền 1.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/11/2023 đến ngày 11/11/2023 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt tại phiên tòa).

-Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+Ông Viên Thái K –Sinh năm: 2001 (vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, Ninh Thuận;

+Ông Nguyễn Hữu T2 –Sinh năm: 1997 (vắng mặt);

+Ông Bùi Thanh P –Sinh năm: 2003 (vắng mặt);

+Ông Lê Xuân T3–Sinh năm: 1994 (vắng mặt);

+Bà Lê Thị T1–Sinh năm: 1979 (có mặt);

+Ông Nguyễn Văn Đ–Sinh năm: 1982 (có mặt);

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, Ninh Thuận;

+Bà Phan Thị Kim H --Sinh năm: 1995 (vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, Ninh Thuận;

-Người làm chứng: Ông Nguyễn Tuấn K1 –Sinh năm: 2000; Địa chỉ: Khu phố F, phường T, thành phố P-T, Ninh Thuận (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 01/11/2023, Nguyễn Văn L1 là người nghiện ma túy đã liên hệ với Đào Duy T để mua 500.000₫ ma túy đá. T yêu cầu L1 nhờ chị Phan Thị Kim H chuyển số tiền 490.000₫ qua tài khoản ví Momo cho T, T cho chị H 10.000đ phí dịch vụ chuyển tiền. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, L1 đến nhà T ở thôn T, xã P thì T đưa cho L1 một gói ma túy đá. L1 bỏ ma túy vào túi quần mang về chưa kịp sử dụng thì bị Công an huyện N bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng 01 gói nilon chứa ma túy đá (ký hiệu M1), 01 điện thoại di động hiệu Nokia; 01 xe mô tô Elegent 85D1-25224 và số tiền 650.000đ. Qua khám xét chỗ ở của L1 thu giữ: 01 túi nilon chứa tinh thể màu vàng trắng (ký hiệu M4); 02 túi nilon loại túi Zip chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M5, M6).

Qua tiến hành khám xét chỗ ở của Đào Duy T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an N thu giữ: 01 nõ thuỷ tinh (M2); 01 lọ nhựa có nắp màu xanh; 01 quẹt ga và 01 đoạn ống hút cắt nhọn một đầu; 01 chai nhựa có gắn 01 ống hút nhựa, 01 nõ thuỷ tinh; 01 quẹt ga (M3); 01 Điện thoại Vivo màu tím.

Tại bản kết luận giám định số 245/KL-KTHS ngày 09/11/2023 Phòng K2 Công an Ninh Thuận kết luận: +Chất rắn màu trắng (M1) và chất màu nâu (M3) gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định M1: 0,1298g; M3: 0,0079g; +Chất bẩn màu nâu (M2), tinh thể màu trắng (M5) gửi đến giám định không đủ kết luận do khối lượng mẫu quá ít; +Tinh thể màu trắng vàng (M4), tinh thể màu trắng (M6) không phải ma tuý; H1 lại mẫu vật sau giám định là: M1: 0,0937g; M2, M3, M4, M5, M6 đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra Đào Duy T thừa nhận đã nhiều lần liên hệ số điện thoại 0355.138.xxx để mua ma tuý và chuyển tiền vào tài khoản ví Momo của Nguyễn Tuấn K1. Trong thời gian từ tháng 9/2023 đến 01/11/2023, sau khi mua được ma tuý, T đã phân ra bán lẻ cho các đối tượng nghiện hút trên địa bàn xã P, cụ thể:

+Bán ma túy đá cho Nguyễn Văn L1 03 lần/03 tép/1.300.000đ hưởng lợi bất chính 1.290.000đ: Lần 1: khoảng tháng 9/2023, bán ma túy cho L1 300.000đ, việc giao tiền và ma túy tại nhà L1. Lần 2: Khoảng ngày 25/10/2023, bán ma túy cho L1 500.000đ, việc giao nhận tiền, ma túy tại nhà T. Lần 3: Vào chiều ngày 01/11/2023, bán ma túy cho L1 500.000đ. L1 đã đưa 500.000đ cho chị Phan Thị Kim H nhờ chuyển tiền qua ví Momo cho T, sau đó thì L1 bị bắt quả tang.

+Bán ma túy đá cho Viên Thái K 03 lần/ 03 tép/600.000₫ hưởng lợi bất chính 600.000đ: Lần 1: Khoảng ngày 01/10/2023, bán ma túy cho K 200.000đ, hai bên đã trực tiếp giao ma túy và tiền cho nhau. Lần 2: Khoảng ngày 15/10/2023, bán ma túy cho K 200.000đ. T giao ma túy cho K, còn K chuyển tiền qua tài khoản cho T. Lần 3: Vào tối 30/10/2023, T bán ma túy cho K 200.000đ, K chuyển 200.000đ cho T qua tài khoản ví Momo.

+Bán ma túy đá cho Bùi Thanh P 02 lần/500.000đ, hưởng lợi bất chính 500.000đ: Lần 1: Vào đêm 31/10/2023, bán ma túy cho P 200.000đ, P chuyển tiền qua tài khoản ví M cho T 200.000đ. Lần 2: Vào chiều ngày 01/11/2023, bán ma túy cho P 300.000đ, P đưa 300.000đ nhờ Lê Xuân T3 chuyển đến tài khoản ngân hàng S cho T.

Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma tuý thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N còn chứng minh trong khoảng thời gian từ ngày 25/10/2023 đến ngày 01/11/2023, Đào Duy T đã 03 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguyễn Hữu T2 tại nhà chị Đào Thị Kim O, cụ thể: Lần 1: Khoảng cuối tháng 10/2023, khi T2 đến nhà T chơi, thì T rủ T2 cùng sử dụng ma túy. Lần 2: Ngày 31/10/2023, khi T đang sử dụng ma túy đá thì T2 đến chơi và T rủ T2 cùng sử dụng ma túy. Lần 3: Ngày 01/11/2023, khi T2 đến nhà T chơi thì T lấy ma túy,bộ dụng cụ dụng ma túy ra và rủ T2 cùng sử dụng.

Bản cáo trạng số 16/CT-VKS-HS ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát Ninh P1, truy tố Đào Duy T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tại điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép ma túy”, tại điểm a khoản 2 Điều 255 BLHS. truy tố Nguyễn Văn L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại điểm c khoản 01 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Ninh P1 vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Xử phạt bị cáo Đào Duy T từ 07 đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 05 đến 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Các bị cáo đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát huyện N tại phiên tòa, không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào nghị án: Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nên đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến ngày 01/11/2023, Đào Duy T đã có hành vi mua ma tuý về phân chia nhỏ lẻ và bán cho Nguyễn Văn L1, Viên T, Bùi Thanh P trên địa bàn xã P tổng cộng 08 lần, thu lợi bất chính 2.390.000đồng, cụ thể: bán Viên Thái Kha 03 lần, Bùi Thanh P 02 lần, Nguyễn Văn L1 03 lần. Ngoài ra trong khoảng thời gian từ cuối tháng 10/2023 đến ngày 01/11/2023, T đã 03 lần tổ chức sử dụng trái chất ma tuý cho Nguyễn Hữu T2 tại nhà chị Đào Thị Kim O. Từ những nhận định trên, HĐXX kết luận hành vi của T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tại điểm b khoản 02 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép ma túy”, tại điểm a khoản 02 Điều 255 BLHS.

Đối với Nguyễn Văn L1: Vào ngày 01/11/2023, sau khi mua ma túy của Đào Duy T mang về nhà thì bị Công an bắt quả tang đang tàng trữ trong túi quần 01 gói ma túy có khối lượng 0,1298g loại Methamphetamine. Hành vi của L1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại điểm c khoản 01 Điều 249 BLHS.

Các bị cáo Đào Duy T, Nguyễn Văn L1 là người trên 18 tuổi, có đủ khả năng nhận thức việc tàng trữ trái phép chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều kiện nhân thân:

[3.1] Bị cáo Đào Duy T: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Sau khi bị bắt bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội trước đó. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s,r Khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng Điều 54 BLHS để xử phạt bị cáo với khung hình phạt liền kề về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp. Còn đối với tội “mua bán trái phép chất ma túy” thì bị cáo phạm tội nhiều lần với tính chất phức tạp và nguy hiểm hơn nên không áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo về tội “mua bán trái phép chất ma túy”

[3.2] Bị cáo Nguyễn Văn L1: là người có nhân thân xấu, trong năm 2023 bị Công an xã P ra quyết định xử phạt hành chính 02 lần, bị UBND xã P ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 31/10/2023, bị Tòa Á ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo chưa chấp hành. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ tại điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát N về việc định tội, định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. HĐXX xét thấy là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên chấp nhận.

[5] Các vấn đề khác: Đối tượng Viên Thái K, Bùi Thanh P, Nguyễn Hữu T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã chuyển hồ sơ liên quan để xử lý vi phạm hành chính.

Đối với Nguyễn Tuấn K1 không bán trái phép chất ma tuý cho Đào Duy T. Chị Đào Thị Kim O không biết Đào Duy T sử dụng nhà mình làm địa điểm tổ chức sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an N không xử lý hình sự.

Đối với Phan Thị Kim HLê Xuân T3: Khi được Nguyễn Văn L1Bùi Thanh P nhờ chuyển tiền cho Đào Duy T nhưng chị H và anh T3 không biết mục đích nhờ chuyển tiền để mua ma tuý nên không xử lý hình sự.

[6] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ và xử lý:

-01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu đen của bà Lê Thị T1; 01 xe mô tô Elegent màu trắng đen biển số 85D1-25224 của ông Nguyễn Văn Đ. Tuy nhiên ông Đ, bà T1 (là cha mẹ bị cáo L1) không biết L1 dùng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho họ là phù hợp.

-Số tiền 650.000đ đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1047598.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự Ninh Phước theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 02/5/2024, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Nguyễn Văn L1 là có cơ sở.

-01 Điện thoại Vivo màu tím của Đào Duy T dùng vào mục đích phạm tội và số tiền 2.390.000đ, T hưởng lợi bất chính từ việc bán ma tuý, nên cần phải tịch thu sung quỹ Nhà nước là đúng pháp luật.

-Đối với ma tuý còn lại sau giám định (M1) 0,0937g và dụng cụ sử dụng ma túy không còn giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phí: Các bị cáo Đào Duy T, Nguyễn Văn L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ vào: Điểm b Khoản 2 Điều 251; Điểm s, r Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tuyên bố: Bị cáo Đào Duy T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

-Xử phạt: Bị cáo Đào Duy T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2.Căn cứ vào: Điểm a Khoản 2 Điều 255; Điểm s, r Khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tuyên bố: Bị cáo Đào Duy T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

-Xử phạt: Bị cáo Đào Duy T 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

3.Áp dụng: Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Đào Duy T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 02/11/2023).

4.Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

-Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L1 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 01/11/2023).

5.Áp dụng: Điều 329 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tiếp tục tạm giam các bị cáo Đào Duy TNguyễn Văn L1 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, theo quyết định tạm giam số 58, 59/2024/HSST-QĐTG ngày 29/5/2024 của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

6.Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: - 01 (một) điện thoại Vivo màu tím, số Imeil: 862101048161239, số Imei 2: 862101048161221 của bị cáo Đào Duy T.

-Buộc bị cáo Đào Duy T phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 2.390.000 đồng (hai triệu, ba trăm chín mươi ngàn đồng), do thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L1: Số tiền 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi ngàn đồng) đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1047598.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 02/5/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N-Ninh Thuận.

Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng ma tuý còn lại sau giám định (ký hiệu M1) 0,0937g và dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 túi nylon (ký hiệu M4); 02 túi nylon loại túi Zip (ký hiệu M5, M6); 01 chai nhựa có nắp màu xanh, trên nắp bị đục hai lỗ gắn một ống hút nhựa và một ống thuỷ tinh; 01 quẹt ga; 01 nõ thuỷ tinh (ký hiệu M2); 01 nõ thuỷ (ký hiệu M3); 01 lọ nhựa có nắp màu xanh, trên nắp đục hai lỗ tròn; 01 quẹt ga; 01 đoạn ống hút cắt nhọn một đầu; 01 chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp chai có gắn ống hút nhựa, 01 quẹt ga bên trong còn ga. (Các vật chứng nêu trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận ngày 02/4/2024).

7.Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đào Duy T, Nguyễn Văn L1, mỗi người phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

8. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/5/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Công an huyện Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Xuân Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về hình sự sơ thẩm (về tội mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (về tội Mua bán trái phép chất ma túy, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Duy T. về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”, và tội “Tổ chức sử dụng trái phép ma túy”, tại điểm a khoản 2 Điều 255 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS; Nguyễn Văn L. về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger