Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày: 15-5-2024

---

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nam.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Hồ Xuân An.

Ông Trần Thanh Long.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Tứ, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đức và ông Phan Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 04năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Chánh H, sinh ngày 12 tháng 11 năm 1997, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ôngNguyễn Chánh Hiến và bà: Hồ Thị H1; vợ Nguyễn Thị Kim C; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền sự; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 26/5/1998, bị Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh T xử phạt hành chính về hành vi “Vận chuyển hàng cấm”; Ngày 15/9/2008 bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”; Ngày 31/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền xử phạt 15.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

2. Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: B), sinh ngày 20/4/1982, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: thôn V - N, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T; Sinh (Đã chết) và bà: Đặng Thị P; Sinh năm: 1950; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/9/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

- Bị hại: Anh Trần Nguyễn Quang H2 sinh năm: 1993, nơi cư trú: B T, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Phi H3; nơi cư trú: thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

2. Anh Hoàng Văn B1; nơi trú tại: thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 06 tháng 9 năm 2023, do bực tức vì không lấy được tiền nợ, Nguyễn Chánh H nảy sinh ý định gọi Trần Nguyễn Quang H2 đến quán “Dê tùng xẻo” tại xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế để yêu cầu H2 trả tiền, nếu H2 không có tiền, H sẽ lấy tài sản của H2 để yêu cầu H2 trả tiền nợ trước đó. Lúc này, tại quán dê có Nguyễn Chánh H, Nguyễn Phi H3 và Hoàng Văn B1. Sau khoảng 30 phút, H2 đến quán ngồi nhậu cùng với Chánh H và Phi H3. Nguyễn Chánh H tiếp tục dùng điện thoại gọi Nguyễn Văn Đ đến quán để nhậu cùng nhóm của H. Sau khi Đ đến quán khoảng 10 phút, Nguyễn Chánh H nói với H2: “mi để lại xe đó cho tau, tự tìm đường mà vô, khi mô trả đủ tiền thì trả lại xe”. H2 nói với H xe H2 đi đến quán không phải xe của H2 mà mượn từ người khác, H tiếp tục đe dọa: “đụ mạ mi, mi đó nếu người khác là tau điên tau đập cho nữa”. Bị H đe dọa nên H2 im lặng, lúc này, Đ đứng dậy chỉ tay vào H2 và chửi: “Mi hẹn họ nhiều lần không chịu trả, mi lì lợm rứa, mi ưa tau đâm mi không”. Do lo sợ bị H và Đ đánh, H2 giao lại chìa khóa xe cho H rồi gọi người nhà đến chở về. Sau đó, H2 liên hệ yêu cầu H trả trả lại xe mô tô trên nhưng H không trả. Đến ngày 14/12/2023, Trần Nguyễn Quang H2 đã trình báo vụ việc đến Công an thị xã H. Quá trình điều tra, Nguyễn Chánh H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên

Tại bản kết luận định giá số: 58 ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã H đã kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade biển kiểm soát 75E1-297.45 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 23.281.500 đồng.

- Về vật chứng vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H trả lại toàn bộ vật chứng đã thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, biển kiểm soát 75E1-297.45 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Z Flip 4 cho các chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKSHTr ngày 03/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà đã truy tố các bị cáo Nguyễn Chánh H, Nguyễn Văn Đ về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Trong phần luận tội Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Chánh H, Nguyễn Văn Đ và đề nghị:

Xử phạt: Nguyễn Chánh Hiền từ 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Xử phạt: Nguyễn Văn Đại từ 12 tháng đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai người làm chứng; Bản kết luận giám định, các tài liệu chứng cứ khác của vụ án; có đủ căn cứ kết luận:

[2.1] Vào khoảng 15 giờ ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại quán “Dê tùng xẻo” thuộc xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, các bị cáo Nguyễn Chánh H, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực uy hiếp tinh thần anh Trần Nguyễn Quang H2 để chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade biển kiểm soát 75E1-297.45 có trị giá 23.281.500 đồng. Hành vi nói trên của các bị cáo có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận: Nguyễn Chánh H, Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội: “Cưỡng đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

[2.2] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng hành vi đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội.

[2.3] Xét mức độ phạm tội và vai trò đồng phạm của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có sự bàn bạc, chuẩn bị từ trước và không có sự cấu kết, tổ chức. Trong vụ án này Nguyễn Chánh H đã rủ rê Nguyễn Văn Đ cùng tham gia nên có vai trò chính trong vụ án, Nguyễn Văn Đ với vai trò là người giúp sức.

[2.4] Xét về nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Nguyễn Chánh H đã bị đã xử phạt hành chính về hành vi “Vận chuyển hàng cấm” và “Đánh bạc” nhưng đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Ngày 31/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền xử phạt 15.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” nhưng đã được xoá án tích. Nguyễn Văn Đ bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 20/9/2013, nhưng đã được xoá án tích; Các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội các bị cáo bồi thường cho bị hại, được bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[2.5] Về hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, hơn nữa nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội một phần là do bị hại vay mượn tiền nhưng không chịu trả nên gây bức xúc dẫn đến các bị cáo có hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo bột phát, nông nổi nên có thể xem xét không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà áp dụng Điều 65 cho được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, biển kiểm soát 75E1-297.45 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu S đã trả lại cho chủ sở hữu, không ai có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu gì nữa nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chánh H, Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: B) phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chánh H 01 (một) năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01(một) 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Chánh H và bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Chánh H, bị cáo Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Trà;
  • - CA thị xã Hương Trà;
  • - CQ THA hình sự;
  • - Chi cục THA thị xã Hương Trà;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Hữu Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (cưỡng đoạt tài sản)

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cưỡng đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chánh H, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực uy hiếp tinh thần anh Trần Nguyễn Quang H để chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade có trị giá 23.281.500 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger