|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 10 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Xuân.
Ông Nguyễn Minh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 23/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với.
- Bị cáo: Nguyễn Văn T; sinh năm 1988; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1960 và con bà: Nông Thị H, sinh năm 1963; có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ: Nông Thị T1; sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; căn cước công dân số [...] cấp ngày 04/4/2021, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ C2; tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Bị hại: Ông Hoàng Văn B; sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hoàng Văn H1; sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn N; sinh năm 1960 (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12h00 ngày 21/02/2024 Nguyễn Văn T một mình đi kiểm tra vườn cây của gia đình tại thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang thì phát hiện có đàn bò đang được chăn thả gần đó vào phá vườn rừng của gia đình nhà T. Sau khi đuổi đàn bò đi, do bực tức vì đàn bò nhiều lần vào phá hoại vườn nên T nảy sinh ý định giết bò để cảnh cáo. T đi vào khu vực bể nước của gia đình, múc 01 gáo nước đổ vào 01 khay nhựa màu trắng, rồi đi đến chạn bát lấy 01 túi muối đổ một phần muối trong túi vào khay, sau đó T lấy 01 túi nilon màu xanh chứa phân đạm Urê treo ở xà nhà đổ khoảng 02 bát con phân đạm trộn lẫn với muối trong khay nhựa màu trắng, sau đó lấy 01 đoạn cây gỗ để khuấy đều cho muối và phân đạm tan ra. Lúc này T nhớ ra trong lều còn thuốc diệt côn trùng và thuốc trừ cỏ lúa chưa dùng hết nên T quay lại khu vực bếp nấu cám lợn lấy 02 lọ dung dịch (gồm 01 lọ là thuốc diệt côn trùng và 01 lọ là thuốc trừ cỏ lúa) mở ra đổ vào khay nhựa màu trắng trên rồi dùng 01 đoạn cây gỗ khuấy thêm vài lần nữa để các chất trong khay tan đều. Sau đó T chia đều lượng dung dịch trong khay vào 01 khay nhựa màu xanh và 01 nồi nhôm. Tiên đặt khay nhựa màu xanh tại chân cột của lều; đặt nồi nhôm tại góc chuồng lợn; còn khay nhựa màu trắng T đặt tại vị trí gần máng ăn của gia súc. Sau đó bị cáo T đi về nhà.
Đến chiều cùng ngày 21/02/2024, ông Hoàng Văn B; sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang phát hiện 02 con bò của gia đình bị chết ở gần lều nhà Nguyễn Văn T. Sáng ngày 22/02/2024, ông Hoàng Văn B trình báo Cơ quan CSĐT Công an huyện B để giải quyết.
Ngày 22/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường ghi nhận tình trạng 02 con bò như sau: 01 con bò cái màu lông vàng đã chết, mắt phù có dịch màu hồng chảy ra, chướng bụng, ngoài ra không có dấu vết gì khác; 01 con bò đực màu lông vàng đen đã chết, mắt phù màu trắng đục, miệng chảy dịch thức ăn dạ dày, chướng bụng, ngoài ra không có dấu vết gì khác. Thu giữ tại hiện trường: 02 mẫu chất chứa trong dạ dày bò (ký hiệu A1, A2); 04 lọ nhựa chứa dung dịch (ký hiệu M4, M5, M6, M7); 03 mẫu dung dịch màu trắng đục chứa trong 01 khay nhựa màu trắng, 01 nồi kim loại, 01 khay nhựa màu xanh (ký hiệu M1, M2, M3) để giám định.
Tại Kết luận giám định số 152/202-207/24/KLGĐĐC-PYQG ngày 19/3/2024 của V, kết luận: Mẫu chất chứa dạ dày bò ký hiệu A1 và A2: Có tìm thấy B1, C và U, Không tìm thấy các chất độc khác nêu trên; Mẫu vật chứng ký hiệu M1, M2, M3: Có tìm thấy B1, C và U; không tìm thấy các chất độc khác nêu trên; Mẫu vật chứng ký hiệu M4: Không tìm thấy các chất độc nêu trên. Mẫu vật chứng ký hiệu M5: Có tìm thấy C1, C; không tìm thấy các chất độc khác nêu trên; Mẫu vật chứng ký hiệu M6: Có tìm thấy C, không tìm thấy các chất độc khác nêu trên; Mẫu vật chứng ký hiệu M7: Có tìm thấy B1, không tìm thấy các chất độc khác nêu trên.
Tại Công văn số 385/PYQG-ĐC ngày 07/6/2024 của V về việc giải thích kết luận giám định: Urê là một loại phân đạm được sử dụng làm phân bón nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng. Động vật ăn Urê với hàm lượng lớn có thể gây ngộ độc và tử vong. Khi ngộ độc U, dấu hiệu ban đầu là run cơ, phù mắt, chướng bụng, tiết nước bọt nhiều, khó thở, thở gấp, co giật và chết. Liều gây chết LD50 của Urê đối với cừu, dê, trâu, bò theo đường uống là 511 mg/kg thể trọng; Cypermethrin là thuốc bảo vệ thực vật nhóm pyrethroit. Triệu chứng ngộ độc Cypermethrin bao gồm co thắt phế quản, phù hầu họng và shock, da bỏng, ngứa, tê cóng, ban đỏ, tổn thương giác mạc, co giật, hôn mê hoặc ngừng thở dẫn đến tử vong. Liều gây độc LD50 của Cypermethrin trên động vật có vú theo đường uống là 100-1000 mg/kg thể trọng; Butachlor là thuốc bảo vệ thực vật nhóm chloracetanilid. Triệu chứng ngộ độc Butachlor bao gồm kích ứng da, đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy, khó thở, tiết nước bọt, viêm da, vàng da, tăng men gan. Liều gây độc LD50 của Butachlor trên chuột theo đường uống là 1740 mg/kg thể trọng.
Ngày 22/5/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra xác định các vị trí thực hiện hành vi phạm tội, kết quả Nguyễn Văn T mô tả, chỉ dẫn vị trí thực hiện hành vi phạm tội phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, phù hợp với các lời khai, bản cung và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTTHS ngày 06/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 con bò cái có lông màu vàng, thể trạng mập tổng trọng lượng: 272 kg có giá trị là: 25.840.000₫ (Hai mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 con bò đực có lông màu vàng đen, thể trạng mập, tổng trọng lượng: 204 kg có giá trị là: 17.340.000₫ (Mười bảy triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản trên là: 43.180.000 đồng (Bốn mươi ba triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng).
Tang vật vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ các đồ vật sau:
- - 02 (hai) lọ nhựa dung tích 300ml đựng chất chứa dạ dày bò (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- - 01 (một) lọ nhựa dung tích 300ml đựng khoảng 01ml dung dịch trắng đục.
- - 02 (hai) chai nhựa dung tích 500ml đựng khoảng 200ml dung dịch trắng đục.
- - 01 (một) lọ nhựa màu đen, nắp nhựa xoáy màu trắng, trên nhãn ghi “CYPADO 25EC” bên trong có dung dịch màu vàng.
- - 01 (một) lọ nhựa màu trắng, nắp nhựa xoáy màu đỏ, trên nhãn ghi “TACO 600EC, đơn vị phân phối: CÔNG TY TNHH V1, số lô - ngày sang chai: 210622, Hạn sử dụng: 2 năm, SĐK: 2781/CNĐKT-BVTV" bên trong có dung dịch màu tím.
- - 01 (một) lọ nhựa màu trắng, nắp nhựa xoáy màu trắng, bên trong có dung dịch màu nâu đen, trên nhãn ghi “tinh chất thảo mộc, NSX: 11.2021, HSD: 2 năm".
- - 01 (một) lọ nhựa màu trắng, nắp nhựa xoáy màu đỏ, trên nhãn ghi “WAVOTOX 585EC, Đơn vị sang chai và phân phối: Công ty TNHH V2, Ngày sản xuất: 06/07/2016, HSD: 2 năm, SĐK: 492/09SRN” bên trong có chứa dung dịch màu nâu vàng.
- + 01 (một) phần đáy xô nhựa, màu trắng, hình tròn, có đường kính: 26,6cm, cao: 7,5cm.
- + 01 (một) nồi kim loại, màu trắng, không có quai hai bên, nồi cũ đã qua sử dụng, có đường kính: 26cm, cao: 12cm.
- + 01 (một) can nhựa màu xanh đậm, bị cắt đôi, có kích thước dài: 30cm, rộng: 21cm, dày: 9cm.
Đối với 01 gáo nhựa, 01 túi muối, 01 túi nilong màu xanh chứa phân đạm, 01 đoạn gậy gỗ dài khoảng 30cm, quá trình điều tra không truy thu được.
Trong quá trình điều tra thu giữ, xét thấy không phải vật chứng của vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T gồm: 01 (một) lọ nhựa màu trắng, nắp nhựa xoáy màu trắng, bên trong có dung dịch màu nâu đen, trên nhãn ghi “tinh chất thảo mộc, NSX: 11.2021, HSD: 2 năm”; 01 (một) lọ nhựa màu trắng, nắp nhựa xoáy màu đỏ, trên nhãn ghi “WAVOTOX 585EC, Đơn vị sang chai và phân phối: Công ty TNHH V2, Ngày sản xuất: 06/07/2016, HSD: 2 năm, SĐK: 492/09SRN” bên trong có chứa dung dịch màu nâu vàng.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra xác định 01 con bò đực màu lông vàng đen là tài sản của gia đình ông Hoàng Văn B; 01 con bò cái màu lông vàng là tài sản của hộ gia đình ông Hoàng Văn H1, sinh năm 1992, Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang nhờ ông Hoàng Văn B chăn nuôi giúp. Bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường cho ông Hoàng Văn B và ông Hoàng Văn H1 số tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng). Ông B, ông H1 đã nhận đủ tiền và không đề nghị bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSBM ngày 23/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, về tội Hủy hoại tài sản theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm giữ nguyên cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Hủy hoại tài sản.
- - Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 sửa đổi bổ sung Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 (Mười hai) đến 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) đến 28 (Hai mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) lọ nhựa dung tích 300ml đựng chất chứa dạ dày bò; 01 (một) lọ nhựa dung tích 300ml đựng khoảng 01ml dung dịch trắng đục; 02 (hai) chai nhựa dung tích 500ml đựng khoảng 200ml dung dịch trắng đục; 01 (một) lọ nhựa màu đen, nắp nhựa xoáy màu trắng, trên nhãn ghi “CYPADO 25EC” bên trong có dung dịch màu vàng; 01 (một) lọ nhựa màu trắng, nắp nhựa xoáy màu đỏ, trên nhãn ghi “TACO 600EC, đơn vị phân phối: CÔNG TY TNHH V1, số lô - ngày sang chai: 210622, Hạn sử dụng: 2 năm, SĐK: 2781/CNĐKT-BVTV" bên trong có dung dịch màu tím; 01 (một) phần đáy xô nhựa, màu trắng, hình tròn, có đường kính: 26,6cm, cao: 7,5cm; 01 (một) nồi kim loại, màu trắng, không có quai hai bên, nồi cũ đã qua sử dụng, có đường kính: 26cm, cao: 12cm; 01 (một) can nhựa màu xanh đậm, bị cắt đôi, có kích thước dài: 30cm, rộng: 21cm, dày: 9cm.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn T chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn T nhất trí toàn bộ quan điểm kiểm sát viên đề nghị không có tranh luận đối đáp với Kiểm sát viên.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhất trí với toàn bộ quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, không có tranh luận đối đáp.
Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng: Nguyễn Văn N. Xét thấy bị cáo; bị hại; Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt; trong hồ sơ đã có lời khai việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không khiếu nại quyết định hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, xác định hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Do bực tức vì nương của gia đình mình thường xuyên bị bò thả rông vào phá hoại nên ngày 21/02/2024, Nguyễn Văn T đã có hành vi hòa tan dung dịch gồm phân đạm Urê, muối, thuốc diệt côn trùng và thuốc trừ cỏ lúa, chia dung dịch ra các khay nhựa, nồi nhôm để các vị trí quanh lán của gia đình nhằm mục đích để bò thả rông ăn phải sẽ ngộ độc chết và sẽ không đến phá hoại vườn rừng nhà bị cáo nữa. Hậu quả làm chết 02 con bò của ông Hoàng Văn B và ông Hoàng Văn H1 với tổng trị giá tài sản là 43.180.000 đồng. Như vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Hủy hoại tài sản theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Điều 178 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng. Xét thấy bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được việc làm của mình. Bị cáo biết rõ hành vi của mình có thể gây chết cho trâu bò nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện nhằm thỏa mãn sự bực tức, hậu quả làm chết 02 con bò. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây thiệt hại lớn đến tài sản của người khác, đã xâm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo và áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.
[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình sinh sống, làm việc tại địa phương chưa vi phạm lần nào là người luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba của Chủ tịch nước, bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 26.000.000 đồng cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án để khắc phục hậu quả gây ra, lỗi một phần do bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, căn cứ các điều kiện quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 sửa đổi bổ sung Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6] Bị cáo Nguyễn Văn T đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, Hội đồng xét xử, xét thấy bị cáo xử phạt tù nhưng được hưởng án treo nên hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định tại Điều 125, 278 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 02 (hai) lọ nhựa dung tích 300ml đựng chất chứa trong dạ dày bò; 01 (một) lọ nhựa dung tích 300ml đựng khoảng 01ml dung dịch trắng đục; 02 (hai) chai nhựa dung tích 500ml đựng khoảng 200ml dung dịch trắng đục.; 01 (một) lọ nhựa màu đen, nắp nhựa xoáy màu trắng; 01 (một) lọ nhựa màu trắng, nắp nhựa xoáy màu đỏ; 01 (một) phần đáy xô nhựa, màu trắng, hình tròn; 01 (một) nồi kim loại, màu trắng, không có quai hai bên, nồi cũ đã qua sử dụng; 01 (một) can nhựa màu xanh đậm, bị cắt đôi, là các công cụ phạm tội và là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 (một) lọ nhựa màu trắng, nắp nhựa xoáy màu trắng; 01 (một) lọ nhựa màu trắng, nắp nhựa xoáy màu đỏ, cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 gáo nhựa, 01 túi muối, 01 túi nilong màu xanh chứa phân đạm, 01 đoạn gậy gỗ dài khoảng 30cm, quá trình điều tra không truy thu được nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về hình phạt bổ sung: Quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000₫ đến 100.000.000₫”. Tuy nhiên, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Trong vụ án này còn có một số hành vi và đối tượng liên quan:
- [10.1] Đối với ông Nguyễn Văn N là bố đẻ của bị cáo có mua 01 lọ dung dịch nhãn “CYPADO 25EC” để ở lều nương của gia đình từ trước mục đích phục vụ cho việc chăm sóc cây trồng của gia đình, ông N không biết, không được giúp sức việc bị cáo T sử dụng lọ thuốc trên vào việc phạm tội, do đó không có căn cứ để xử lý. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [10.2] Đối với các hộ chăn thả gia súc không trông coi, không xác định chính xác là gia súc của hộ gia đình nào, thiệt hại không đáng kể do đó không có căn cứ để xử lý. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Từ những căn cứ trên đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là có căn cứ được chấp nhận.
[12] Về án phí: Bị cáo chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[13] Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Hủy hoại tài sản.
2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 sửa đổi bổ sung Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.
Hủy bỏ ngay biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
3. Về hình phạt bổ sung: Không.
4. Về trách nhiệm dân sự: Không.
5. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:
- - 02 (hai) lọ nhựa dung tích 300ml đựng chất chứa trong dạ dày bò.
- - 01 (một) lọ nhựa dung tích 300ml đựng khoảng 01ml dung dịch trắng đục.
- - 02 (hai) chai nhựa dung tích 500ml đựng khoảng 200ml dung dịch trắng đục.
- - 01 (một) lọ nhựa màu đen, nắp nhựa xoáy màu trắng, trên nhãn ghi “CYPADO 25EC” bên trong có dung dịch màu vàng.
- - 01 (một) lọ nhựa màu trắng, nắp nhựa xoáy màu đỏ, trên nhãn ghi “TACO 600EC, đơn vị phân phối: CÔNG TY TNHH V1, số lô - ngày sang chai: 210622, Hạn sử dụng: 2 năm, SĐK: 2781/CNĐKT-BVTV" bên trong có dung dịch màu tím.
- - 01 (một) phần đáy xô nhựa, màu trắng, hình tròn, có đường kính: 26,6cm, cao: 7,5cm.
- - 01 (một) nồi kim loại, màu trắng, không có quai hai bên, nồi cũ đã qua sử dụng, có đường kính: 26cm, cao: 12cm.
- - 01 (một) can nhựa màu xanh đậm, bị cắt đôi, có kích thước dài: 30cm, rộng: 21cm, dày: 9cm.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).
6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn T chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Hoàng Văn Thuận |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Trương Thị Xuân - Nguyễn Minh Thư |
Hoàng Văn Thuận |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về hủy hoại tài sản
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội hủy hoại tài sản
