|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 03-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Quang Dưỡng;
Ông Đoàn Ngọc Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Huyền - Thư ký TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm là Trụ sở TAND huyện Triệu Phong và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an huyện T vụ án án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn P tên gọi khác “Búa”, sinh ngày 18/3/1999 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Thợ may; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P1, sinh năm 1977 (đã chết) và bà Đặng Thị L, sinh năm 1980; vợ con: chưa có.
Nhân thân:
Ngày 25/4/2014, bị Chủ tịch UBND thị trấn L, huyện H Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 06/5/2016, Trần Văn P bị TAND huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 16/2016/HSST.
Ngày 14/11/2016, Trần Văn P bị TAND huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 42/2016/HSS. Tổng hợp hình phạt theo bản án số 16/2016/HSST ngày 06/5/2016 của TAND huyện Hướng Hóa, tuyên phạt 36 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 02/02/2019.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2024 đến nay - có mặt.
- Người bị hại: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1969, trú tại A, T, T - có mặt.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:
+ Ông Lê Văn Đ - Nhân viên TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
+ Ông Nguyễn Văn L1 – Nhân viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 25/6/2023, Trần Văn P đi bộ từ nhà (thôn N, T, T) đến khu vực thôn A, xã T, T, Quảng Trị để chơi. Khi P đi ngang qua nhà bà Lê Thị T1 (sinh năm 1969, trú tại A, T, T) thì thấy cổng không khóa, ở trước sân có chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen, mang BKS: 74D1-286.08 đang dựng sẵn, chìa khóa xe đang cắm trên ổ khóa nên P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc này, P quan sát xung quanh không có ai, nên đi đến mở khóa, ngồi lên xe rồi điều khiển xe chạy từ A, T, T đến khóm K, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị bán chiếc xe trên cho người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), số tiền bán xe P đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KLĐG ngày 31/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen, mang BKS: 74D1-286.08, số máy HC12E1077369, số khung RLHHC12158Y077269, có giá trị 5.150.000 đồng (Năm triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).
Cáo trạng số: 14/CT-VKSTP ngày 08 tháng 4 năm 2024 của VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, truy tố Trần Văn P, về tội: "Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn P 15-18 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1, Điều 46 BLHS; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự 2015: Buộc bị cáo Trần Văn P phải bồi thường cho bà Lê Thị T1 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Vào ngày 25 tháng 6 năm 2023, Trần Văn P lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã thực hiện hành vi trộm 01 (một) xe máy biển kiểm soát 74D1-286.08.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KLĐG ngày 31/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen, mang BKS: 74D1-286.08, số máy HC12E1077369, số khung RLHHC12158Y077269, có giá trị 5.150.000 đồng (Năm triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).
Vì vậy, VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Trần Văn P về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học, mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Vì thời gian tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày nên cần tiếp tục ban hành Quyết định tạm giam mới đối với bị cáo Trần Văn P để đảm bảo thi hành án.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị T1 yêu cầu bị cáo Trần Văn P bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Thấy rằng, yêu cầu này là hợp pháp nên cần chấp nhận.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố bị cáo Trần Văn P, phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo: 15 (Mười lăm) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (12/01/2024).
-
Về trách nhiệm dân sự : Áp dụng điểm b khoản 1, Điều 46 BLHS; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự 2015: Buộc bị cáo Trần Văn P phải bồi thường cho bà Lê Thị T1 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành nếu bên phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền nói trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Hùng |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Phương phạm tội "Trộm cắp tài sản"
