|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày: 04/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Tấn Trung – Phó Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Phạm Quang Ý – Hiệu trưởng Trường tiểu học Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh và điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện S. Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn N, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2007 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 21/3/2023, bị Công an xã T, huyện S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn T, xã T, huyện S. Bị áp dụng hình thức xử phạt: Cảnh cáo.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến nay. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Lê Văn N: Ông Lê Văn V, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; cùng cư trú tại: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
1
Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn N: Ông Nguyễn Công T1, là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q, theo Quyết định số 114/QĐ-TGPL ngày 09/4/2024 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q, có mặt.
- Bị hại:
- Ông Đỗ Minh S, sinh năm 1957.
- Ông Phan Mạnh V1, sinh năm 1988.
- Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm B, thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm B, thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Phạm Ninh T2, sinh năm 1989.
- Anh Châu Khải H, sinh năm 2006.
- Chị Châu Thị T3, sinh năm 1996.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm 1983.
- Bà Trịnh Thị Thúy K1, sinh năm 1985.
- Chị Nguyễn Thị Lan H1, sinh năm 2001.
- Ông Lê Công C, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật cho anh Châu Khải H: Ông Châu Quang Y, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1965; cùng cư trú tại: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 02/02/2024, Lê Văn N đi bộ từ nhà mình đến sân nhà ông Đỗ Minh S để ngồi hút thuốc lá tại ghế đá nhà ông S. Một lúc sau, Nam quan sát không thấy ai ở nhà, đồng thời cửa chính nhà ông S đang mở, N đi vào bên trong phòng khách nhà ông S thì thấy có một máy tính xách tay màu đen đang để sạc pin trên bàn nên N nảy sinh ý định trộm cắp máy tính xách tay nêu trên để bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, N lại gần vị trí để máy tính xách tay rồi lấy máy tính xách tay (không lấy cục sạc pin máy tính), đi ra khỏi nhà ông S.
Sau khi lấy được máy tính xách tay, N sử dụng điện thoại di động gọi điện thoại cho tổng đài xe taxi M để đặt xe đi đến thành phố Q nhằm mục đích tìm chỗ tiêu thụ máy tính vừa mới trộm cắp được. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, anh Phạm Ninh T2 là tài xế xe taxi M lái xe taxi đến cây xăng T4, ở thôn M, xã T, huyện S để đón N. N yêu cầu anh T2 chở đến tiệm sửa chữa, mua bán laptop hoặc tiệm cầm đồ dưới thành phố Q. Nghe vậy, T2 chở N đến 02 tiệm sửa chữa, mua bán máy tính trên đường Q và đường P thuộc thành phố Q (không nhớ cụ thể địa chỉ và tên cửa hàng), nhưng không có tiệm nào nhận mua nên N yêu cầu anh T2 chở N đi tiếp. Khi đến đoạn đường B, thành phố Q thì N bảo anh T2 dừng xe, lúc này N không có tiền để thanh toán cước taxi nên N nói với anh T2 giữ giúp N máy tính xách tay để N về lấy tiền trả tiền taxi cho anh T2, rồi N lấy lại máy tính xách tay sau thì anh T2 đồng ý và giữ lại máy tính xách tay do N đưa. Sau đó N xuống xe đi bộ về nhà ở thôn M, xã T, huyện S. Đến ngày 03/02/2024, Công an xã T đưa N về trụ sở làm việc.
Tại Kết luận định giá số 01/KL-HĐĐG ngày 21/2/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS K55VD, màu đen (đã qua sử dụng) có giá 7.600.000 đồng.
Ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S ban hành Quyết định khởi tố vụ án số 07/QĐ-ĐTTH, Quyết định khởi tố bị can số 07/QĐ-ĐTTH đối với Lê Văn N về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lê Văn N.
3
Đến ngày 16/4/2024, N đi bộ từ trong nhà nghỉ K2, thuộc thôn M, xã T, huyện S, do ông Nguyễn Thanh N2 làm chủ, về hướng N. Trên đường đi, N nhìn thấy nhà ông Nguyễn Duy K đang mở cửa cổng nhưng không có người bên trong nên N đi vào nhà. N nhìn thấy 01 điện thoại cảm ứng, hiệu Sam Sung Galaxy A30 của ông K đặt trên đầu tủ tivi nên N nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại nêu trên. N cầm điện thoại bọc vào túi trước bên phải của quần Jean dài màu đen N đang mặc. Sau đó, N tiếp tục đi bộ một đoạn đến ngã ba xã T thì nhìn thấy nhà ông Phan Mạnh V1 cũng đang mở cửa cổng mà không có ai trong nhà nên N đi bộ vào nhà, N nhìn thấy 02 điện thoại cảm ứng, gồm 01 điện thoại hiệu Iphone 6Plus và 01 điện thoại hiệu Iphone 8 Plus của ông V1 đang sạc pin đặt trên cửa sổ phòng khách, N nảy sinh ý định trộm cắp 02 điện thoại nêu trên, N đến gần vị trí để điện thoại rồi gỡ dây sạc ra để lấy 02 điện thoại này bọc vào túi quần phía trước bên phải của quần Jean Nam đang mặc, sau đó đi ra khỏi nhà ông V1.
Đến khoảng 08 giờ ngày 16/4/2024, N đi bộ đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại di động của bà Nguyễn Thị Ngọc N1 để chạy lại chương trình đối với điện thoại Sam sung Galaxy A30 nhằm mục đích mở khóa điện thoại. Bà N1 đồng ý và hẹn Nam 14 giờ ngày 16/4/2024 đến lấy điện thoại. Sau khi điện thoại Sam sung Galaxy A30 được mở khoá, N sử dụng xe mô tô hiệu EXCITER màu đen, mang biển số kiểm soát 76P1-075.72 (mượn của Châu Khải H) và cầm điện thoại Samsung Galaxy A30 đi qua cửa hàng điện thoại của bà Trịnh Thị Thúy K1 để bán với số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng). Sau khi lấy tiền bán điện thoại, N trả cho ông Lê Công C chủ quán Game “Đẳng Cấp” số tiền 50.000 đồng và trả nợ cho chủ tiệm tạp hóa chị Nguyễn Thị Lan H1 số tiền 650.000 đồng mà N đã nợ 02 người trước đó.
Tại Kết luận định giá số 04/KL-HĐĐG ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, đã qua sử dụng có giá 2.000.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng, đã qua sử dụng có giá 1.000.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A30, màu xanh, đã qua sử dụng có giá 1.500.000 đồng. Như vậy giá trị tài sản mà Lê Văn N chiếm đoạt vào ngày 16/4/2024 là 4.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà Lê Văn N đã trộm cắp được vào ngày 02/02/2024 và ngày 16/04/2024 là 12.100.000 đồng.
Tại cáo trạng số 12/CT-VKSST ngày 06/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị can Lê Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh rút một phần nội dung bản cáo trạng về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thời điểm bị cáo phạm tội thì bị cáo là người chưa thành niên và phạm tội thuộc khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nên thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với các nội dung khác và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 6 Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên không xem xét.
Về phần dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.
Về án phí: Tuyên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
4
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Lê Văn N nhất trí về tội đanh, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là chưa phù hợp và có phần nghiêm khắc vì bị cáo là người chưa thành niên, thành thật khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Bị hại ông Đỗ Minh S, ông Phan Mạnh V1, ông Nguyễn Duy K; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm anh Châu Khải H, chị Châu Thị T3, bà Nguyễn Thị Ngọc N1, bà Trịnh Thị Thúy K1, chị Nguyễn Thị Lan H1, ông Lê Công C và người đại diện theo pháp luật của anh Châu Khải H là ông Châu Quang Y, bà Đỗ Thị L vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn N đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/02/2024, Lê Văn N lợi dụng lúc nhà ông Đỗ Minh S không có ai ở nhà, đồng thời cửa chính nhà ông S mở nên bị cáo đã lén lút đột nhập vào nhà ông S để trộm cắp 01 máy vi tính xách tay màu đen, hiệu ASUS có giá trị 7.600.000 đồng. Đến ngày 16/04/2024, Lê Văn N tiếp tục lợi dụng lúc nhà ông Nguyễn Duy K mở cửa và không có ai trong nhà nên bị cáo lén lút, đột nhập vào nhà ông K để trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu S1 A30 có giá trị 1.500.000 đồng; sau đó N tiếp tục đột nhập vào nhà ông Phan Mạnh V1 để trộm cắp 01 điện thoại di động màu trắng, hiệu Iphone 6 Plus có giá trị 1.000.000 đồng và 01 điện thoại di động, màu đen, hiệu Iphone 8 Plus có giá trị 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo N đã chiếm đoạt của các ông Đỗ Minh S, ông Nguyễn Duy K và ông Phan Mạnh V1 trong ngày 02/02/2024 và ngày
5
16/04/2024 là 12.100.000 đồng. Với hành vi nêu trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương nên cần phải được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo N chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Trong các ngày 02/02/2024 và 16/4/2024 bị cáo đã thực hiện hai lần trộm cắp tài sản, mỗi lần trộm cắp tài sản có trị giá đều trên 2.000.000 đồng là trường hợp phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Ông Đỗ Minh S đã nhận lại 01 (một) máy tính xách tay, hiệu ASUS, màu đen. Ông S không có yêu cầu gì khác về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Ông Nguyễn Duy K đã nhận lại 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A30, màu xanh. Ông K không có yêu cầu gì khác về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Ông Phan Mạnh V1 đã nhận lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu trắng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Phus, màu đen. Ông V1 không có yêu cầu gì khác về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Bà Trịnh Thị Thúy K1 là người đã mua lại điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30 từ bị cáo N với số tiền 700.000 đồng. Sau khi hành vi phạm tội của bị cáo N bị phát hiện, bà K1 đã tự nguyện giao nộp điện thoại nêu trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S. Ngày 07/5/2024, ông Lê Văn V (cha của bị cáo) đã bồi thường số tiền 700.000 đồng cho bà K1. Bà K1 không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
Các tài sản Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ được, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét, gồm: 01 (một) máy tính xách tay, hiệu ASUS, màu đen đã trả lại cho ông Đỗ Minh S; 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A30, màu xanh đã trả lại cho ông Nguyễn Duy K; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu trắng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Phus, màu đen đã trả lại cho ông Phan Mạnh V1.
6
[8] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Phạm Ninh T2 không biết về nguồn gốc của máy tính xách tay và bị cáo N cũng không nói cho anh T2 biết máy tính xách tay là do bị cáo N trộm cắp mà có được. Do đó, việc anh T2 giữ máy tính xách tay nêu trên khi không biết đây là tài sản do bị cáo N phạm tội mà có, không có yếu tố cấu thành tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự.
Anh Châu Khải H cho bị cáo N mượn xe mô tô hiệu Exciter mang biển số kiểm soát 76P1-075.72, do Châu Thị T3 đứng tên chủ sở hữu. Khi mượn xe thì anh H không biết mục đích bị cáo N mượn xe là để đi bán điện thoại do bị cáo N trộm cắp được và H cũng không đi cùng N vào ngày 16/4/2024. Do đó, không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị Châu Thị T3 là chủ sở hữu xe mô tô hiệu Exciter mang biển số kiểm soát 76P1-075.72. Việc bị cáo N mượn xe mô tô nêu trên vào ngày 16/4/2024 thì chị T3 hoàn toàn không biết. Do đó, không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với chị T3 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị Ngọc N1 là người nhận mở khóa điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30 vào ngày 16/4/2024. Khi bị cáo N mang điện thoại đến cửa hàng nhờ bà N1 mở khóa thì bà N1 không biết đây là điện thoại do bị cáo N trộm cắp mà có. Do đó, không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà N1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Bà Trịnh Thị Thúy K1 mua lại điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30 mà bị cáo N bán với số tiền là 700.000 đồng vào ngày 16/4/2024 nhưng bà K1 không biết nguồn gốc điện thoại này là do bị cáo N trộm cắp mà có. Do đó, không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà K1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Thị Lan H1 nhận 650.000 đồng do bị cáo N đến trả nợ. Tuy nhiên, chị H1 không biết số tiền này là do bị cáo N bán tài sản trộm cắp mà có được. Đồng thời, sau khi biết được nguồn gốc của số tiền thì chị H1 đã trả lại cho ông Lê Văn V (là cha đẻ của bị cáo N). Do đó, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với chị H1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Ông Lê Công C nhận 50.000 đồng do bị cáo N đến trả nợ. Tuy nhiên, ông C không biết số tiền này là do bị cáo N bán tài sản trộm cắp mà có được. Đồng thời, sau khi biết được nguồn gốc của số tiền thì ông C đã trả lại cho ông Lê Văn V (là cha đẻ của bị cáo N). Do đó, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông C là phù hợp với quy định của pháp luật.
7
[9] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Lê Văn N về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về hình phạt có phần chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn N 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.
2. Về án phí: Bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Ninh T2 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Châu Khải H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Tân |
8
9
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Nam phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Nam 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.
