Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ PĂH

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 17/2024/HS-ST

Ngày : 01/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH - GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

  • + Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Bảo
  • + Các Hội thẩm nhân dân:
  • 1. Bà Phạm Thị Thoa – Chủ tịch Hội LHPN xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh
  • 2. Ông Trịnh Văn Nguyên – Cán bộ hưu trí
  • + Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Nữ Hương Giang - Thư ký TAND huyện Chư Păh - Gia Lai.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh - Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Lương Minh Phúc - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở TAND huyện Chư Păh – Tỉnh Gia Lai mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/HSST, ngày 21 tháng 6 năm 2024 và quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/ 2024/QĐXXST-HS ngày 19/7/2024 đối với bị cáo:

Trần Văn K

sinh ngày 10/9/1969; tại: Nam Định, tên gọi khác: Không. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ dân phố B, thị trấn I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 02/12. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam. Con ông Trần Ngọc V – đã chết và bà Trần Thị T, sinh năm 1935. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Bị cáo có vợ: Trần Thị D, sinh năm 1976 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 1999 và nhỏ nhất sinh năm 2001. Tiền sự, Tiền án: Không; Nhân thân: tốt; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2024 đến ngày 30/01/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo Lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Đinh Văn T1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Làng V, TT . I, huyện C, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt)
  • - Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1981. Địa chỉ: TDP B, TT . I, huyện C, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)
  • - Bà Trần Thị D, sinh năm 1976. Địa chỉ: TDP B, TT . I, huyện C, tỉnh Gia Lai. (có mặt)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 29/12/2023, Trần Văn K (là đối tượng nghiện ma túy) đi đến khu vực bến xe thành phố K, tỉnh Kon Tum mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 700.000 đồng ma túy loại Heroin rồi đưa về nhà và sử dụng một phần số ma túy đó, phần còn lại K bỏ vào gói giấy và cất trong túi quần, mục đích nếu có ai mua thì bán kiếm lời. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi Trần Văn K đang tưới cà phê tại Tổ dân phố A, thị trấn la L, huyện C thì Đinh Văn T1 (cũng là đối tượng nghiện ma túy) gọi điện thoại cho K hỏi K có ma túy không để mua sử dụng, thì K đồng ý bán và hẹn giao ma túy trước cổng chùa P ở thị trấn I, huyện C. Sau đó K cất điện thoại vào túi và mang theo gói ma túy có sẵn trong người rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUMOTO biển kiểm soát 47N9-9453 đến khu vực cổng chùa P thì gặp T1 đang đứng ngoài đường vào chùa. Tại đây, T1 đưa cho K 200.000 đồng còn K đưa tép ma túy cho T1 thì bị Công an thị trấn la L2, huyện C bắt quả tang, thu giữ trên người Thú 01 gói giấy có chứa chất màu trắng (cả K và T1 đều khai đó là H). Thu giữ trên người của K số tiền 1.408.000 đồng (trong đó có 200.000 đồng là tiền mua bán ma túy), 01 điện thoại nhãn hiệu Ridmi, 01 xe mô tô và 04 bơm kim tiêm còn mới chưa sử dụng. Sau đó Công an thị trấn L2 đã chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để giải quyết theo thẩm quyền.

- Tại bản kết luận giám định số 77/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh G kết luận: Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói ni long trong bì thư niêm phong gửi giám định là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,0831 gam.

Quá trình bắt quả tang, ngoài số ma túy đã thu giữ được niêm phong theo quy định ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ của Trần Văn K số tiền 1.408.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu Ridmi, 01 xe mô tô nhãn hiệu SUMOTO biển kiểm soát 47N9-9453 và 04 bơm kim tiêm. Qua điều tra xác định: Đối với số tiền 1.208.000 đồng thu giữ trên người của K, đây là tiền cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho K. Đối với chiếc điện thoại hiệu Redmi là của Trần Văn K liên hệ với đối tượng Đinh Văn T1 để trao đổi mua bán ma túy; 04 bơm kim tiêm là của K mua về để sử dụng ma túy nhưng chưa sử dụng, số tiền 200.000 đồng là tiền mua bán ma túy; chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUMOTO BKS 47N9-9453 là tài sản hợp pháp của vợ K mua lại của người khác để sử dụng, khi K dùng chiếc xe này đi thực hiện hành vi phạm tội thì vợ của K không biết. Tất cả đều là vật chứng của vụ án cần chuyển đến Chi Cục thi hành án dân sự huyện Chư Păh để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 20 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh – Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

2

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX:

Căn cứ Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 30/12/2024 đến ngày 30/01/2024).

Về chứng cứ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì công văn, mặt trước ghi “Số 77/PC09, ngày 05 tháng 01 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh G, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI* PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*” và chữ ký, chữ viết các ông Vũ Mạnh T2, Hoàng Ngọc B, Bùi Sĩ T3; 04 bơm kim tiêm.

Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Ridmi màu đen và thu nộp ngân sách số tiền 200.000 đồng.

Trả lại: chiếc xe mô tô hiệu SUMOTO biển kiểm soát 47N9-9453 cho bà Trần Thị D.

Hình phạt bổ sung: Không

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thống nhất bản luận tội của Đại diện viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, tại khu vực trước cổng chùa P thuộc Tổ dân phố A, thị trấn I, huyện C, bị cáo Trần Văn K đã bán 01 gói ma tuý loại Heroin với khối lượng 0,0831 gam cho người mua Đinh Văn T1 thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện C phát hiện bắt quả tang.

[3] Về lời khai của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo khai giống với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra vụ án.

[4] Về các chứng cứ: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 19 giờ 50 phút ngày 29/12/2023; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Ridmi màu đen dùng để liên

3

lạc và Kết luận giám định số 77/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh G kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 gói nilon, trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 0,0831 gam”.

[5] Từ những cơ sở, chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ kết luận:

Hành vi bán chất ma túy loại Heroine, khối lượng 0,0831 gam của bị cáo Trần Văn K đã phạm vào “Tội mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh truy tố bị cáo K về tội danh và điều khoản theo quy định của Bộ luật hình sự như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6] Về tính chất của vụ án: Hành vi mua bán chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, nghiêm cấm mua bán dưới mọi hình thức. Bản thân bị cáo K biết việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, là người có nhận thức về trách nhiệm pháp luật và hành vi vi phạm nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân đã thực hiện việc mua bán ma túy để có tiền lãi và sử dụng ma túy cho bản thân. Vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, đồng thời tạo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.

[7] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị cáo bị bệnh nhồi máu não, đột quỵ cấp, tăng huyết áp, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cho bị cáo được hưởng.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma tuý, loại Heroine trong 01 bì công văn nguyên niêm phong mặt trước ghi “Số 77/PC09, ngày 05 tháng 01 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh G, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI* PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*” và chữ ký, chữ viết các ông Vũ Mạnh T2, Hoàng Ngọc B, Bùi Sĩ T3”, là chất Nhà nước cấm lưu hành và 04 kim tiêm không còn giá trị sử dụng nên cần cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Ridmi màu đen, kiểu máy Redmi 13c của Trần Văn K là phương tiện dùng liên lạc để bán ma túy nên tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước.

Số tiền 200.000 đồng thu giữ của K do bán ma túy mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu SUMOTO biển kiểm soát 47N9-9453 tên đăng ký Hà Xuân L1 do bà Trần Thị D mua sử dụng dùng trong sinh hoạt gia đình, bị cáo K lấy đi làm rẫy rồi sử dụng đi bán ma túy bà D không biết. Đây là tài sản hợp pháp

4

của bà D và là phương tiện sử dụng thông thường của bà D không phải bị cáo chuyên sử dụng nên trả chiếc xe mô tô lại cho bà Trần Thị D.

[10] Những vấn đề khác: Đối với Đinh Văn T1 là người mua ma túy để sử dụng nhưng Thú chưa bị xử phạt hành chính và chưa bị kết án về tội này hoặc các tội quy định tại Điều 248, 250, 251 và 252 Bộ Luật hình sự nên cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định xử phạt hành chính đối với T1 là có căn cứ.

Đối với người bán ma túy chưa xác định được nhân thân lai lịch và địa chỉ, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Qua xác minh bị cáo không có tài sản riêng, không có công việc làm ổn định và không có thu nhập gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn K 02 (hai) năm tù, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam 31 ngày (từ ngày 30/12/2024 đến ngày 30/01/2024)

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì công văn, mặt trước ghi “Số 77/PC09, ngày 05 tháng 01 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh G, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI* PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*” và chữ ký, chữ viết các ông Vũ Mạnh T2, Hoàng Ngọc B, Bùi Sĩ T3 và 04 bơm kim tiêm.

Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Ridmi, kiểu máy Redmi 13c và tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền: 200.000 đồng (Công an huyện C đã chuyển vào tài khoản của Chi cục THA dân sự huyện C).

Trả lại: chiếc xe mô tô hiệu SUMOTO biển kiểm soát 47N9-9453 cho bà Trần Thị D.

(Đặc điểm chi tiết các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/07/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Păh và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C).

-Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

5

Buộc bị cáo Trần văn K1 phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay (01/8/2024) lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để xin xét xử phúc thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - VKS huyện Chư Păh;
  • - CA huyện Chư Păh;
  • - THA huyện Chư Păh;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Bảo

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH - TỈNH GIA LAI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH - TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Khánh phạm tội Mua bán trái phép chất Ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger