Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-PT

Ngày 30 - 5 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hiệp

Các Thẩm phán: Ông Tô Văn Thịnh

Ông Phạm Thanh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 29/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Đinh Văn Q do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Đinh Văn Q, sinh năm 1983 tại huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn D V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Đ và bà Nguyễn Thị K; có vợ Hoàng Thị N và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/7/2023 đến ngày 01/8/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1967 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo:

  1. Bà Đinh Thị T, sinh năm 1968;
  2. Anh Hoàng Văn Đ2, sinh năm 1989;

Đều cư trú: Thôn 4 Vân Trình, xã Thượng Hòa, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

  1. Anh Hoàng Văn Đ3, sinh năm 1987; nơi cư trú: số nhà A, đường N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai;

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đinh Thị T: Anh Hoàng Văn Đ3 -Văn bản ủy quyền ngày 29/11/2023 (đều có mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp của bị hại bà T và anh Đ3: Ông Vũ Hồng T1 và ông Bùi Văn Đ4 - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Tầng C, số H phố Q, quận B, thành phố Hà Nội (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo Tòa án triệu tập:

  1. Cụ Bùi Thị Ẩ, sinh năm 1940 (vắng mặt);
  2. Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1987 (có mặt).

Đều có nơi cư trú: Thôn D V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Người làm chứng: chị Bùi Thị Như Q1; anh Hoàng Văn T2; ông Đinh Văn Ơ (đều có mặt).

Ông Đinh Văn C; anh Đinh Văn C1; anh Nguyễn Văn T3; anh Đinh Trường T4; anh Nguyễn Văn T5; anh Nguyễn Thành T6; anh Nguyễn Duy Q2; anh Đinh Văn Q3 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Văn Q làm nghề chăn nuôi thả vịt tại cánh đồng Báng thuộc thôn D V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Cùng chăn nuôi thả vịt tại cánh đồng Báng với Q còn có một số hộ dân khác trong đó có ông Hoàng Văn Đ1 (là bác trong họ nội tộc của vợ Q) và ông Đinh Văn C1 đều trú tại thôn D V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình chung vốn để nuôi vịt cùng nhau.

Quá trình chăn thả vịt ông Đ1 và ông C1 làm 02 chiếc lều tôn đặt tại cánh đồng Báng gồm: 01 lều KT (2 x 1,2 x 1,7) m, có sàn gỗ, sử dụng để ngủ nghỉ và 01 lều tôn KT (2 x 1,2 x 1,7) m sử dụng để đựng cám chăn nuôi vịt, còn bản thân Q thì không dựng lều tại cánh đồng trên. Do có mối quan hệ làng xóm cùng làm nghề chăn nuôi vịt nên khi ra cánh đồng Q thường hay đến lều coi vịt của ông Đ1, ông C1 uống nước, hút thuốc lá, nói chuyện vui vẻ cùng mọi người (bầy vịt của Q thả tại cánh đồng cách vị trí lều coi vịt của ông Đ1, ông C1 khoảng 300 mét).

Vào khoảng 21 giờ ngày 22/7/2023, sau khi ăn cơm xong Đinh Văn Q đi bộ trên đường gần nhà thì gặp anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1984 trú tại thôn B V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình điều khiển xe mô tô đi qua. Anh T5 rủ Q đi chơi thì Q đồng ý, sau đó anh T5 điều khiển xe mô tô chở Q đi đến cánh đồng Bằng ở thôn D V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình (gần cánh đồng Báng) sau đó hai người đi vào lều trông coi vịt của anh Đinh Văn Q3, sinh năm 1981, trú tại thôn E V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình thì gặp một số người trong đó có anh Q3 (chủ lều) và ông Đinh Văn C1 (người cùng chung chăn nuôi vịt với ông Đ1) đang ngồi chơi uống nước tại đây. Sau khi ngồi chơi uống nước nói chuyện đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày Q và anh T5 cùng nhau ra về, một lúc sau ông C1 cũng ra về. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày ông Hoàng Văn Đ1 đi bộ đến lều coi vịt của anh Q3 để ngồi chơi nói chuyện một lúc rồi ông Đ1 quay lại lều coi vịt của mình tại cánh đồng Báng để ngủ.

Sau khi về nhà đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đinh Văn Q lấy thịt chó sống trong tủ lạnh nhà mình mang đến quán ăn của anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1990 tại thôn D V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình bảo anh Tư n thịt chó rồi Q cùng anh T3 (chủ quán) và các anh Đinh Trường T4, sinh năm 1984 trú tại thôn D V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; anh Nguyễn Thành T6, sinh năm 1982; anh Nguyễn Duy Q2, sinh năm 1984 đều trú tại thôn B V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình và anh Nguyễn Văn T5 ngồi ăn thịt chó. Quá trình ăn thì 06 người trên đã uống hết khoảng 1,5 lít rượu. Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 23/7/2023 thì mọi người ăn xong và ra về.

Khi về nhà để chuẩn bị ra cánh đồng Báng trông coi vịt, Q2 đã lấy 01 khẩu súng một nòng, báng gỗ, súng dài 106 cm (nòng súng dài 60 cm), loại bắn đạn chì, súng không có vòng bảo vệ cò và lấy 01 viên đạn lắp vào súng rồi lên đạn (súng chỉ lắp được 01 viên đạn, khi lắp phải tháo nòng súng rời buồng đạn) với mục đích tiện thể khi ra đồng trông vịt thì mang theo khẩu súng nạp sẵn đạn nêu trên nhằm săn bắn chim, chuột lấy thịt về ăn. Việc Quang lắp sẵn đạn tự chế để khi thấy chim, chuột thì bắn luôn bởi khi ra đồng mà trông thấy chim, chuột mới lên đạn sẽ gây ra tiếng động khiến những động vật này phát hiện, bỏ chạy không bắn được.

Đến khoảng 01 giờ ngày 23/7/2023, Đinh Văn Q cầm khẩu súng nêu trên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream II, biển kiểm soát: 34B1- 493.82 đi từ nhà ra đến khu vực cánh đồng Báng. Như những lần trước, Q đi đến lều coi vịt của ông Hoàng Văn Đ1 để rủ ông Đ1 hút thuốc lá. Khi đến nơi Q thấy cửa lều của ông Đ1 đang mở (cửa lều được chống bằng cây gậy tre dài 1,5m, rộng 3.4 cm; một đầu gậy chống vào cửa lều bằng tôn, một đầu gậy chống xuống mặt đất để cố định để mở cửa lều, theo hướng từ dưới lên trên, cạnh mép cửa lều bên trên mở cách mặt đất là 0,95m). Q dựng xe mô tô ở gần lều rồi bước xuống xe, tay trái Q cầm khẩu súng rồi đi bộ đến trước cửa lều của ông Đ1 thì thấy ông Đ1 đang nằm ngủ trên sàn giường gỗ, có trải chiếu. Lúc này ông Đ1 đang nằm ngủ trong tư thế nằm ngửa, phía bên phải người ông Đ1 hướng ra phía ngoài cửa lều, phía bên trái người ông Đ1 nằm sát với thành lều phía trong, hai chân ông Đ1 duỗi thẳng, tay phải ông Đ1 gác lên trán, tay trái để duỗi thẳng so với người của mình để nằm ngủ. Thấy ông Đ1 ngủ, Q đứng bên ngoài gọi với ông Đ1 “Dậy hút thuốc” thì ông Đ1 trả lời “Ừ” rồi lại tiếp tục nằm ngủ. Do thấy ông Đ1 chưa thức, Q đã đi vào trong lều tôn để gọi ông Đ1 dậy, khi đi vào do cửa lều thấp nên Q đã phải cúi người xuống để đi vào trong. Khi vào trong lều tay phải của Q chống xuống mặt giường, tay trái của Q cầm khẩu súng (cầm tại vị trí báng gỗ, trước vị trí cò súng). Khi Q vừa đặt khẩu súng từ trên tay trái xuống mặt sàn giường nơi ông Đ1 đang nằm ngủ thì bất ngờ tay trái của Q cầm báng súng bị dịch chuyển về phía sau dẫn đến phần cạnh dưới bàn tay trái của Q tác động chạm vào phần cò súng làm cho đạn bị phát nổ, bắn ra khỏi nòng súng trúng vào vùng sườn bên phải của ông Đ1 làm ông Đ1 bị thương chảy máu. Thấy vậy Q lay người gọi ông Đ1 nhưng không thấy ông Đ1 trả lời, Q đã hoảng hốt lấy khẩu súng ném xuống mương nước gần lều rồi nhanh chóng lấy xe mô tô của mình điều khiển đi về nhà mục đích gọi người đưa ông Đ1 đi cấp cứu.

Khi về đến nhà, lúc này vợ của Q là chị Hoàng Thị N đang ngủ. Q gọi chị N dậy và nói “Em ơi dậy đi, anh sai lầm, anh lỡ làm súng cướp cò làm chết bác Đ1 rồi”, nghe vậy chị N chạy sang nhà ông Đinh Văn Ơ, sinh năm 1952 là hàng xóm báo tin. Ngay sau khi kể lại toàn bộ sự việc với ông Ơ, Q đã sử dụng điện thoại của mình gọi cho ông Đinh Văn C1 (là người cùng chung chăn nuôi vịt với ông Đ1) để thông báo sự việc. Sau đó, chị N gọi cho anh trai mình là Hoàng Văn T2, sinh năm 1986 trú tại thôn D V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình để cùng một số người dân ra cánh đồng B đưa ông Đ1 đi cấp cứu nhưng khi mọi người đến nơi kiểm tra thì ông Đ1 lúc này đã tử vong.

Trong khi mọi người ra cánh đồng Báng để xem xét đưa ông Đ1 đi cấp cứu thì vào hồi 01 giờ 30 phút cùng ngày, Đinh Văn Q đã tự nguyện đến Công an xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình để trình diện và đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Ngay sau khi xác minh thông tin ban đầu và lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú, Công an xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình đã thu giữ tại hiện trường vụ án:

  • 01 khẩu súng làm bằng kim loại và gỗ, màu xám, chiều dài toàn bộ khẩu súng là 106cm; nòng súng bằng kim loại, chiều dài là 60cm, đường kính ngoài nòng súng phía đầu súng là 1,5cm, đường kính trong nòng súng phía đầu súng là 0,8cm, đường kính ngoài nòng súng phía ổ chứa đạn là 1,8cm, đường kính trong nòng súng phía ổ chứa đạn là 1,3cm; báng súng bằng gỗ dài 59cm, trên khẩu súng không có ký hiệu, ký tự gì và 01 vỏ đạn bằng kim loại có đặc điểm: dạng hình trụ, chiều dài 3,6cm, đường kính phần đáy là 1,4cm, đường kính phần đầu là 1,2cm (vỏ đạn phát hiện thu giữ ở bên trong buồng đạn của khẩu súng) được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.
  • 01 lều tôn KT (2 x 1,2 x 1,7)m, sàn lều gỗ, cách mặt đất 0,24m, lều có cửa mở theo chiều từ dưới lên trên; 01 thanh tre khô dài 150cm, rộng 3,4cm (sử dụng để chống cửa lều khi mở).

Tiến hành mổ tử thi của ông Hoàng Văn Đ1 còn phát hiện và thu giữ bên trong tử thi của ông Đ1 có: 02 dị vật màu xám, hình đạn không rõ ràng, kích thước phần lớn nhất là 0,15cm, được niêm phong vào túi niêm phong bằng giấy theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình còn thu giữ của Đinh Văn Q: 01 xe mô tô nhãn hiệu Drem II, biển kiểm soát 493.82 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel lắp sim số 0962.749.xxx.

Tiến hành khám xét nơi ở của Đinh Văn Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình đã thu giữ: 01 viên đạn ghém tự chế, có các kích thước: chiều dài 3,5cm, đường kính phần đầu là 01cm, đường kính phần đáy là 1,4cm; 05 vỏ đạn hình trụ tròn, có các kích thước: chiều dài 3,5cm, đường kính phần đầu là 01cm, đường kính phần đáy là 1,4cm; 11 hạt nổ hình tròn, dẹt, đường kính 0,5cm, dày 0,2cm; 08 vỏ hạt nổ hình tròn, dẹt, đường kính 0,5cm, dày 0,2cm; 144 hạt kim loại màu xám, hình cầu, đường kính 0,4cm. Q khai nhận tất cả đồ vật trên là của Q cất giấu với mục đích tự chế đạn ghém để săn bắn chim, chuột.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình đã trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh N giám định tử thi để xác định nguyên nhân chết của ông Hoàng Văn Đ1.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 614/KLGĐTT-KTHS ngày 28/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • Mặt ngoài ngực phải, trên đường nách giữa, cách dưới hõm nách 7cm, có 01 vết cháy xém tổ chức da cơ hình oval, trên nền vết có diện khuyết da nham nhở, xung quanh vết bám dính bụi màu đen. Vết có chiều dài từ trái sang phải, từ ngoài vào trong, thấu vào trong khoang ngực.
  • Thủng rách cơ liên sườn V-VI bên phải, gãy cung bên phải xương sườn số V.
  • Khoang ngực bên phải chứa 700ml máu đông lẫn máu không đông. Thủng rách thùy dưới phổi phải. Toàn bộ thùy dưới phổi phải tụ máu, màu đỏ sẫm. Lòng khí phế quản sung huyết, chứa dịch nhày màu hồng.
  • Thủng rách cơ hoành, vỡ gan, tạo thành nhiều mảnh gan vỡ rời trong ổ bụng. Nhu mô gan có nhiều mảnh dị vật màu xám.
  • Mạc nổi nhỏ tụ máu, trên mạc nối nhỏ có nhiều mảnh dị vật màu xám.

2. Nguyên nhân chết của ông Hoàng Văn Đ1: Đa chấn thương do vết thương đạn bắn xuyên thấu khoang ngực bụng”.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình đã tiến hành trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh N để giám định về súng, đạn đối với: khẩu súng, vỏ đạn thu giữ tại hiện trường, các dị vật thu giữ được bên trong tử thi của ông Hoàng Văn Đ1 và các đồ vật, tài liệu thu giữ tại nơi ở của Đinh Văn Q.

Tại Bản kết luận giám định số: 620/KL-KTHS-SĐ ngày 31/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:

“1. Khẩu súng gửi giám định là súng tự chế bắn đạn ghém và là vũ khí thuộc loại vũ khí có tính năng, tác dụng như súng săn. Tại thời điểm giám định khẩu súng còn sử dụng bắn được.

2. Vỏ đạn gửi giám định là vỏ đạn của loại đạn 7,62x54mmR. Vỏ đạn này đã bị cắt phần đầu để có thể sử dụng làm vỏ đạn của loại đạn ghém.

3. Không đủ cơ sở kết luận 02 dị vật màu xám gửi giám định có phải là đầu đạn hay không?”.

Tại Bản kết luận giám định số: 638/KL-KTHS-SĐ ngày 11/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:

“1. 02 mẫu vật M1 gửi giám định là đạn ghém tự chế, thuộc loại đạn có tính năng, tác dụng tương tự đạn súng săn và không phải là đạn quân dụng. Các viên đạn này sử dụng để bắn được cho các loại súng bắn đạn ghém.

2. 02 mẫu vật M2 gửi giám định là vỏ đạn của loại đạn ghém.

3. 02 mẫu vật M3 gửi giám định là vỏ đạn của loại đạn 7,62x54mmR. Vỏ đạn này đã bị cắt phần đầu để có thể sử dụng làm vỏ đạn của loại đạn ghém.

4. 13 mẫu vật M4 gửi giám định là hạt nổ, thường được sử dụng để làm hạt nổ trong các loại đạn ghém.

5. 06 mẫu vật M5 gửi giám định là vỏ hạt nổ của loại hạt nổ thường dùng trong các loại đạn ghém.

6. 144 mẫu vật M6 gửi giám định là các viên kim loại thường được sử dụng làm đầu đạn trong các loại đạn ghém”.

Tại Bản kết luận giám định số: 641/KL-KTHS ngày 11/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “Không tìm thấy cồn (E) trong mẫu máu thu của tử thi ông Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1967, địa chỉ thường trú trước khi chết: xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình gửi giám định”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã xét xử và quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 128; các điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 591, 593, 357, 468 của Bộ luật Dân sự. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Q phạm tội “Vô ý làm chết người”. Xử phạt bị cáo Đinh Văn Q 22 (hai mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/7/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tính mạng của ông Hoàng Văn Đ1 bị xâm phạm cho cụ Bùi Thị Â, bà Đinh Thị T, anh Hoàng Văn Đ2, anh Hoàng Văn Đ3 (gia đình bị hại) tổng số tiền là 225.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường 200.000.000 đồng buộc bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 25.000.000 đồng. Bị cáo phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cụ Bùi Thị Ầ mỗi tháng là 1.800.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 23/7/2023 cho đến khi cụ Bùi Thị Ầ chết.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho bị cáo và những người đại diện hợp pháp của bị hại theo quy định của pháp luật.

Ngày 04 tháng 3 năm 2024, người đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà Đinh Thị T, anh Hoàng Văn Đ3, Hoàng Văn Đ2 có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình trả hồ sơ vụ án về cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình điều tra lại vụ án theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (quy định về hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại) do việc khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo Đinh Văn Q về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự là không có căn cứ, có dấu hiệu bao che, bỏ lọt hành vi phạm tội giết người và một số hành vi phạm tội khác của Đinh Văn Q là 02 tội danh nữa là “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng súng săn, vũ khí thô sơ” quy định tại khoản 2 Điều 306 và tội “Cố ý không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng” theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 132 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, thụ lý, giải quyết vụ án trên các cơ quan tiến hành tố tụng huyện N, tỉnh Ninh Bình đã có nhiều vi phạm nghiêm trọng về tố tụng trong việc thu thập, đánh giá các chứng cứ liên quan đến vụ án đặc biệt là trong công tác thực nghiệm điều tra khi kết quả thực nghiệm hiện trường không phù hợp với biên bản hiện trường, dấu vết trên cơ thể bị hại và các lời khai nhận của bị cáo Q. Chính việc đánh giá, thu thập và xem xét chứng cứ không khách quan, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng huyện N, tỉnh Ninh Bình đã dẫn đến việc Tòa án ban hành bản án sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, bỏ lọt hành vi phạm tội cố ý giết người, chế tạo, tàng trữ, sử dụng súng săn... không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng của bị cáo Đinh Văn Q.

Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà Đinh Thị T, anh Hoàng Văn Đ3, Hoàng Văn Đ2 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và bổ sung nội dung đề nghị tăng cấp dưỡng cho mẹ đẻ của bị hại theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357; Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 128; các điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Căn cứ các điều 584, 585, 586, 591, 593, 357, 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà Đinh Thị T, anh Hoàng Văn Đ3, Hoàng Văn Đ2 về tội danh và hình phạt, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Đinh Văn Q; xử phạt: Bị cáo Đinh Văn Q 22 tháng tù về tội “Vô ý làm chết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/7/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại về nghĩa vụ cấp dưỡng của bị cáo trong phần trách nhiệm dân sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình về nghĩa vụ cấp dưỡng của bị cáo Đinh Văn Q; Buộc bị cáo Đinh Văn Q phải bồi thường thiệt hại về tính mạng của ông Hoàng Văn Đ1 bị xâm phạm cho cụ Bùi Thị Â, bà Đinh Thị T, anh Hoàng Văn Đ2, anh Hoàng Văn Đ3 (gia đình bị hại) tổng số tiền là 225.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường số tiền 200.000.000 đồng còn phải bồi thường tiếp số tiền 25.000.000 đồng. Bị cáo Đinh Văn Q có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cụ Bùi Thị Ầ mỗi tháng là 3.250.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 23/7/2023 cho đến khi cụ Bùi Thị Ầ chết.

Người đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà Đinh Thị T, anh Hoàng Văn Đ3, Hoàng Văn Đ2 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp của bị hại (bà T và anh Đ3) là ông Vũ Hồng T1 và ông Bùi Văn Đ4 cũng như những người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên toà phúc thẩm (bà T, anh Đ3, anh Đ2) trình bày đều đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án hình sự sơ thẩm trả hồ sơ vụ án để điều tra lại vụ án vì cấp sơ thẩm đã bỏ lọt tội phạm, điều tra thu thập chứng cứ không đầy đủ (cụ thể như trong đơn kháng cáo) và đề nghị tăng tiền cấp dưỡng cho cụ .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa tranh luận đối đáp khẳng định Cơ quan điều tra đã áp dụng đầy đủ các biện pháp điều tra, thực hiện đúng trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trong công tác thực nghiệm điều tra và thu thập chứng cứ. Bị cáo Đinh Văn Q không có động cơ, mục đích tước đoạt tính mạng của ông Đ1 vì vậy hành vi của bị cáo không cấu thành tội “Giết người” mà chỉ cấu thành tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự. Về hành vi bị cáo Q tàng trữ, sử dụng khẩu súng tự chế và số đạn ghém. Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sựchưa bị kết án về tội này nên hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” theo quy định tại Điều 306 của Bộ luật Hình sự. Công an huyện N đã đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi này.

Bị cáo Q không phạm tội không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật Hình sự vì sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã nhanh chóng về nhà báo cho vợ và hàng xóm xung quanh biết để mọi người có biện pháp đưa ông Đ1 đi cấp cứu; ngay sau đó, bị cáo đã đến cơ quan Công an để trình diện và tự thú về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án phù hợp để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 04 tháng 3 năm 2024, người đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà Đinh Thị T, anh Hoàng Văn Đ3, Hoàng Văn Đ2 có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình trả hồ sơ vụ án về cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình điều tra lại vụ án theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (quy định về hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại). Đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm, những người kháng cáo nói trên bổ sung kháng cáo đề nghị tăng cấp dưỡng cho mẹ đẻ của bị hại. Căn cứ Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận bổ sung kháng cáo trên.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đinh Văn Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:

Đinh Văn Q hàng ngày hay đi chăn vịt tại ở cánh đồng Báng thuộc địa phận thôn D V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Ông Hoàng Văn Đ1 ở cùng xã T với bị cáo và cũng thường xuyên đi chăn thả vịt cùng bị cáo. Giữa bị cáo và ông Đ1 không có mâu thuẫn, ông Đ1 còn là chú trong nội tộc của chị Hoàng Thị N là vợ bị cáo. Rạng sáng ngày 23/7/2023, khi đi trông coi vịt như thường lệ Q có mang theo 01 khẩu súng tự chế, loại bắn đạn ghém, súng không có vòng cò bảo vệ, bên trong súng có chứa 01 viên đạn ghém để săn bắn chuột, thú hoang về ăn. Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, Q đã đến trước lều tôn trông coi vịt của ông Hoàng Văn Đ1 và gọi ông Đ1 dậy hút thuốc lá cùng Q nhưng lúc này ông Đ1 đang ngủ say. Sau đó Q đã dựng xe mô tô bên ngoài, Q cầm khẩu súng tại vị trí báng gỗ, gần trước vị trí cò súng bằng tay trái của mình rồi cúi người qua cửa lều để đi vào trong gọi ông Đ1 dậy. Khi tay phải của Q chống xuống giường, còn tay trái Q cầm khẩu súng vừa đặt xuống mặt sàn gỗ nơi ông Đ1 đang nằm ngủ thì bất ngờ tay trái của Q bị dịch chuyển, trượt hướng về phía sau dẫn đến phần cạnh dưới bàn tay trái của Q tác động chạm vào cò súng khiến đạn phát nổ, bắn trúng vào người ông Đ1 làm ông Đ1 bị tử vong. Đến hồi 01 giờ 30 phút cùng ngày, Đinh Văn Q đã tự nguyện đến Công an xã T, huyện N để trình diện và tự thú về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

[3]Xét kháng cáo của những người đại diện hợp pháp của bị hại về tội danh:

Đối với kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm đã bỏ lọt hành vi phạm tội “ Giết người”. Hội đồng xét xử xét thấy Đinh Văn Q là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do vô ý cẩu thả khi dùng súng tự chế, không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, làm ông Hoàng Văn Đ1 chết. Bị cáo không có động cơ, mục đích tước đoạt tính mạng của ông Đ1 vì vậy hành vi của bị cáo không cấu thành tội “Giết người” mà chỉ cấu thành tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự.

Về hành vi bị cáo Q tàng trữ, sử dụng khẩu súng tự chế và số đạn ghém. Căn cứ vào các bản kết luận giám định về súng, đạn cùng các hướng dẫn theo quy định của pháp luật xét thấy bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự chưa bị kết án về tội này nên hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” theo quy định tại Điều 306 của Bộ luật Hình sự. Công an huyện N đã đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi này là đúng quy định của pháp luật.

Về kháng cáo bị cáo Q phạm tội không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo mang súng vào lều ông Đ1 đang nằm vô ý làm súng nổ và ông Đ1 chết là thời điểm ban đêm, thấy máu chảy ra nên bị cáo rất hoảng sợ, chỉ có một mình bị cáo đi xe mô tô không thể tự đưa ông Đ1 đi cấp cứu, bị cáo đã nhanh chóng về nhà báo cho vợ và hàng xóm xung quanh biết để mọi người có biện pháp đưa ông Đ1 đi cấp cứu sau đó đến Công an xã T, huyện N để trình diện và tự thú về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo không phạm tội không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật Hình sự.

Về kháng cáo cấp sơ thẩm đã có nhiều vi phạm nghiêm trọng về tố tụng trong công tác thực nghiệm điều tra và thu thập chứng cứ là không có căn cứ chấp nhận vì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã áp dụng đầy đủ các biện pháp điều tra, thực hiện đúng trình tự và thủ tục quy định, thu thập đủ chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự để xác định các tình tiết khách quan của vụ án.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm của người bảo vệ quyền, lợi ích của đại diện hợp pháp cho bị hại và kháng cáo của những người đại diện hợp pháp của bị hại là không có căn cứ để chấp nhận. Hành vi nêu trên của bị cáo Đinh Văn Q đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được Nhà nước bảo vệ. Bị cáo Đinh Văn Q là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có lỗi vô ý, gây hậu quả tử vong cho bị hại do vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng. Bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn Q 22 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Đối với khoản tiền cấp dưỡng: Bản án sơ thẩm quyết định bị cáo Đinh Văn Q có nghĩa vụ cấp dưỡng 1.800.000 đồng/tháng cho mẹ đẻ bị hại là cụ Bùi Thị Ầ là không đúng với quy định “... không thấp hơn 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng” vì mức lương tối thiểu vùng của huyện N, tỉnh Ninh Bình thuộc vùng 4 là 3.250.000 đồng/1 tháng theo quy định tại Nghị định số 38/2022/NĐCP ngày 12/6/2022 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Hội đồng xét xử thấy cần sửa một phần bản án sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng của bị cáo trong phần trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cụ Bùi Thị Ầ mỗi tháng là 3.250.000 đồng.

[5] Về án phí: Kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại được chấp nhận nên người đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357; Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 128; các điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Căn cứ các điều 584, 585, 586, 591, 593, 357, 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

2. Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà Đinh Thị T, anh Hoàng Văn Đ3, Hoàng Văn Đ2 về tội danh và hình phạt, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Đinh Văn Q;

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn Q 22 (hai mươi hai) tháng tù về tội “Vô ý làm chết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/7/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại về nghĩa vụ cấp dưỡng của bị cáo trong phần trách nhiệm dân sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình về nghĩa vụ cấp dưỡng của bị cáo Đinh Văn Q; Buộc bị cáo Đinh Văn Q phải bồi thường thiệt hại về tính mạng của ông Hoàng Văn Đ1 bị xâm phạm cho cụ Bùi Thị Ẩ, bà Đinh Thị T, anh Hoàng Văn Đ2, anh Hoàng Văn Đ3 (gia đình bị hại) tổng số tiền là 225.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường số tiền 200.000.000 đồng còn phải bồi thường tiếp số tiền 25.000.000 đồng.

Bị cáo Đinh Văn Q có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cụ Bùi Thị Ầ mỗi tháng là 3.250.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 23/7/2023 cho đến khi cụ Bùi Thị Ầ chết.

4. Án phí hình sự phúc thẩm: Người đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà Đinh Thị T, anh Hoàng Văn Đ3, Hoàng Văn Đ2 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 30/5/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội (1 bản);
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội (1 bản);
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình (3 bản);
  • - Phòng kiểm tra nghiệp vụ THA (1 bản);
  • - TAND huyện Nho Quan (4 bản);
  • - VKSND huyện Nho Quan (1 bản);
  • - CA huyện Nho Quan (1 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Nho Quan (1 bản);
  • - Phòng HS&NV Công an tỉnh (1 bản);
  • - Trại tạm giam (1 bản);
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1 bản);
  • - Bị cáo (1 bản);
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại (03 bản);
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại (02 bản:
  • - Lưu hồ sơ (2 bản);
  • - Lưu tòa và Tổ hành chính tư pháp (02 bản).
  • (Thông báo chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-PT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về hình sự phúc thẩm (vô ý làm chết người)

  • Số bản án: 17/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vô ý làm chết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn Q hàng ngày hay đi chăn vịt tại ở cánh đồng Báng thuộc địa phận thôn D V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Ông Hoàng Văn Đ1 ở cùng xã T với bị cáo và cũng thường xuyên đi chăn thả vịt cùng bị cáo. Giữa bị cáo và ông Đ1 không có mâu thuẫn, ông Đ1 còn là chú trong nội tộc của chị Hoàng Thị N là vợ bị cáo. Rạng sáng ngày 23/7/2023, khi đi trông coi vịt như thường lệ Q có mang theo 01 khẩu súng tự chế, loại bắn đạn ghém, súng không có vòng cò bảo vệ, bên trong súng có chứa 01 viên đạn ghém để săn bắn chuột, thú hoang về ăn. Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, Q đã đến trước lều tôn trông coi vịt của ông Hoàng Văn Đ1 và gọi ông Đ1 dậy hút thuốc lá cùng Q nhưng lúc này ông Đ1 đang ngủ say. Sau đó Q đã dựng xe mô tô bên ngoài, Q cầm khẩu súng tại vị trí báng gỗ, gần trước vị trí cò súng bằng tay trái của mình rồi cúi người qua cửa lều để đi vào trong gọi ông Đ1 dậy. Khi tay phải của Q chống xuống giường, còn tay trái Q cầm khẩu súng vừa đặt xuống mặt sàn gỗ nơi ông Đ1 đang nằm ngủ thì bất ngờ tay trái của Q bị dịch chuyển, trượt hướng về phía sau dẫn đến phần cạnh dưới bàn tay trái của Q tác động chạm vào cò súng khiến đạn phát nổ, bắn trúng vào người ông Đ1 làm ông Đ1 bị tử vong. Đến hồi 01 giờ 30 phút cùng ngày, Đinh Văn Q đã tự nguyện đến Công an xã T, huyện N để trình diện và tự thú về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger