Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 217/2024/HS-PT

Ngày: 25/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Trường Du.

Bà Lê Thị Thuỷ.

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 25/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 255/2024/TLPT-HS ngày 24/9/2024. Do Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXPT-HS ngày 07/10/2024, đối với:

* Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Đỗ Công Đ, tên gọi khác: Không - Sinh năm 2003, tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Đỗ Công Đ1 (SN 1973); Con bà: Mai Thị X (SN 1979); Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Ngày 30/9/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2022/HS-ST. Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

2. Họ và tên: Mai Tiến D, tên gọi khác: Không - Sinh ngày 21/4/2005, tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Mai Ngọc T (SN 1975); Con bà: Nguyễn Thị H (SN 1978); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân

2

thân: Ngày 09/01/2024, bị Công an thị xã N, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “xâm phạm sức khỏe của người khác”. Bị bắt tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T (có mặt)

3. Họ và tên: Nguyễn Văn C, tên gọi khác: Không - Sinh năm 2003, tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Nguyễn Văn M (SN 1969); Con bà: Nguyễn Thị L (SN 1974); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 31/3/2024 đến nay (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Mai Tiến D: Luật sư Nguyễn Hữu B - Chi nhánh Công ty TNHH F - thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị T1 (SN 1995); Trú tại: Tổ dân phố L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

* Người làm chứng:

  1. Anh Khương Hải N (SN 1972); Địa chỉ: Khu tái định cư T, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
  2. Anh Hồ Hoài A - sinh ngày 28/10/2006.
  3. Anh Nguyễn Văn Q (SN 2002).

Đều trú tại: Tổ dân phố L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

  1. Anh Phạm Văn T2 (SN 2002); Địa chỉ: Thôn H, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
  2. Anh Lê Văn Đ2 (SN 1987); Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
  3. Anh Đình Anh T3 (SN 2000); Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 22/7/2023, nhóm thanh niên phường H, thị xã N, gồm: Lê Công T4 điều khiển xe mô tô chở Hoàng Bá Q1 và Nguyễn Văn C1 đi trước; Trần Minh K điều khiển xe chở Nguyễn Văn C và Đỗ Công Đ đi sau. Khi đi đến tổ dân phố T, phường H, thị xã N, thì xe do T4 điều khiển suýt xảy ra va chạm với xe mô tô do Nguyễn Văn T5 điều khiển chở sau là Mai Tiến D, đều là người cùng phường H, thị xã N. Hai bên dừng xe lại và có lời qua tiếng lại với

3

nhau, sau đó T4 tiếp tục điều khiển xe chở Q1 và C1 đến quán B1 bên cạnh quán B2 để trả xe mô tô cho bạn. Cùng lúc này T5 cũng điều khiển xe chở D đến quán B2 để chơi bi-a. Khi T5 vừa đi vào quán B2, thì lúc này T4 cũng đang đi bộ lại quán B3. Thấy vậy, D chạy vào quán B2 giật lấy một cây gậy bi-a trên tay khách chạy ra đập một phát về phía T4, T4 giơ tay trái lên đỡ thì bị gậy đập trúng vào phần cánh tay, gậy bi-a bị gãy làm hai đoạn, T4 nhặt một đoạn gậy bi-a bị gãy đuổi theo D, cùng lúc này T5 cũng giật một gậy bi-a trên tay khách chạy ra đánh T4 một phát trúng vào tay trái của T4, làm gậy bi-a bị gãy làm hai phần; đánh xong T5 quay lưng bỏ chạy thì bị T4 cầm đoạn gậy bi-a đã nhặt trước đó đập một phát trúng vào lưng T5, T5 bỏ chạy, thì T4 chạy quay vào quán bi-a để tìm đánh D, thấy vậy D chạy vào bếp quán bi-a lấy một con dao chạy ra, thì cả hai được mọi người can ngăn. T4 đi ra ngoài, nhưng sau đó lại tiếp tục chạy vào quán lấy một viên bi-a cầm trên tay tìm D để đánh nhưng không tìm thấy, sau đó được mọi người can ngăn giằng lấy viên bi-a nên T4 đi ra khỏi quán, còn D và T5 thì bỏ chạy.

Thời điểm T4 đuổi để đánh nhau với D và T5, thì Nguyễn Văn C1 cũng rút dây thắt lưng trong quần ra, cầm trên tay chạy theo T4 đuổi đánh D và T5, còn C cầm hai vỏ chai bia thủy tinh đi đến, C1 đi lại cầm lấy một vỏ chai thủy tinh đập xuống đường, cầm phần cổ chai còn lại, T4 cũng chạy lại chỗ C lấy vỏ chai trên tay C đập vào cây cột điện làm vỡ vỏ chai và cầm phần vỏ chai bị vỡ trên tay cùng với C1 đi về phía quán B3 tìm T5 và D để đánh, nhưng không thấy T5 và D nên cả hai vứt vỏ chai bia đi, C1 đi lại lề đường nhặt một viên gạch cốm cầm ra để bên cạnh. Khi T4 đang đánh nhau với T5 và D, thì Hồ Hoài A (SN 2006), trú tại phường H, thị xã N gọi điện cho Hoàng Nhật C2, người cùng phường nói về việc T5 và D đang đánh nhau và bảo Nhật C2 lên can ngăn, chở T5 và D về. Sau khi nghe cuộc gọi của, Hoài A, Nhật C2 một mình đi xe mô tô và mang theo một con dao giấu trong người đi đến quán B2. Khi đến nơi, Nhật C2 lên tiếng hỏi: “Thằng nào đánh thằng Chánh” (tức là Nguyễn Văn T5), T4 không trả lời mà quay lại phía sau cầm viên gạch cốm mà Nguyễn Văn C1 nhặt trước đó. Lúc này Q1 đang đứng bên ngoài quán B2, thì bị Nhật C2 dùng tay tát 01 cái vào mặt, bị đánh Q1 cầm viên gạch cốm ném Nhật C2 nhưng không trúng, Q1 tiếp tục chạy đuổi theo Nhật C2, vừa chạy vừa nhặt một viên gạch cốm cầm ở tay, nhưng khi thấy C2 rút dao trong người ra thì Q1 ko đuổi theo nữa. Nhật C2 đi đến chỗ T4 đứng vung dao chém T4, thì được Lê Văn Đ2 cầm đoạn ống thép hộp ra can ngăn, đập xuống đường không cho Nhật C2 và T4 xông vào đánh nhau. T4 chạy lại lấy vỏ chai bia thủy tinh để đánh nhau với Nhật C2, thì Đ2 tiếp tục đập đoạn ống thép hộp xuống lề đường để ngăn cản. T4 không lấy được vỏ chai bỏ chạy ra đường, thì bị Nhật C2 cầm dao đuổi theo. Thấy vậy, Nguyễn Văn C1 nhặt một viên gạch cốm ném Nhật C2 nhưng không trúng. Lúc này Đ cũng lấy một vỏ chai thủy tinh trên tay C đi lại xung quanh quán S, khi T4 bị C2 đuổi chém thì Đ cũng cầm vỏ chai thủy tinh chạy theo và ném vỏ chai xuống đường. Nhật C2 chạy đuổi theo T4 đến ngã ba đường ra cảng cá L thì đuổi kịp và chém một nhát trúng vào ngực T4, T4 tiếp tục quay lưng bỏ chạy thì Nhật C2

4

chém thêm hai phát nữa trúng vào vùng vai phải và tay trái của T4. T4 bỏ chạy thì bị ngã, sau đó được Lê Văn Đ2 chở đến Trạm y tế phường H sơ cứu, rồi được người nhà đưa đến điều trị tại Bệnh viện Đ3.

- Tại bản Kết luận giám định pháp y trên cơ thể người sống số 1394/KLTTCT-PYTH ngày 18/8/2023, Trung tâm P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Công T4 tại thời điểm giám định là: 09% (chín phần trăm).

- Tại bản Kết luận giám định vật gây thương tích số 1395/KLVGTT-PYTH ngày 18/8/2023 của Trung tâm P giám định cơ chế hình thành thương tích trên cơ thể của Lê Công T4:

  • Vùng ngực bên phải có vết thương rách da: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng thành bên và thành trên ngực phải phía trước.
  • Vùng bả vai bên phải phía sau bên phải có 05 (năm) vết thương rách da: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng vùng bả vai phải phía sau bên phải có 05 sẹo vết thương phần mềm.
  • Mặt trên tay trái ngay dưới ngón út có vết thương rách da: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mu ô mô út bàn tay trái.
  • Mặt dưới cẳng tay phải có vết thương sưng nề: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh. Gây tổn thương sưng nề mô mềm; đã được điều trị; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương.
  • Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.”

Quá trình điều tra xác định, trong lúc đánh nhau, Mai Tiến D và Nguyễn Văn T5, mỗi người lấy một cây gậy bi-a của quán B2 làm hung khí đánh Lê Công T4, làm 02 cây gậy bị gãy làm đôi. Cơ quan Điều tra đã trưng cầu định giá thiệt hại đối với 02 gậy bi-a nêu trên.

- Tại kết luận định giá tài sản số 122/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 11 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã N kết luận: 01 (một) gậy bi-a nhãn hiệu YFEN, đã qua sử dụng, bị gãy, hư hỏng, thời điểm định giá ngày 22/7/2023, có giá trị còn lại là 1.000.000đ (một triệu đồng) và 01

5

(một) gậy bi-a nhãn hiệu A+Plus, đã qua sử dụng, bị gãy, hư hỏng, thời điểm định giá ngày 22/7/2023, có giá trị còn lại là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra, chị Hoàng Thị T1 (SN 1995), trú tại phường H, thị xã N, là chủ quán bi-a Sông Đềnh Q2 giao nộp cho Cơ quan Điều tra 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston, màu trắng bạc bên trong lưu trữ 03 (ba) đoạn video ghi lại diễn biến vụ gây rối trật tự công cộng nêu trên; Chị Nguyễn Thị H1 (SN 1988), trú tại phường X, thị xã N giao nộp cho Cơ quan Điều tra 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston bên trong lưu trữ 03 (ba) đoạn video chứa dữ liệu ghi lại diễn biến vụ gây rối trật tự công cộng nêu trên.

- Tại bản Kết luận giám định số 931/KL-KTHS ngày 08/3/2024, phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 (ba) tệp video của 01 (một) USB trong phong bì kí hiệu M2 gửi giám định; Không xác định được 03 (ba) tệp video của 01 (một) USB trong phong bì kí hiệu M1 có bị chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh hay không, do nội dung hình ảnh được ghi lại từ màn hình của thiết bị; Trích xuất 12 (mươi hai) ảnh từ các tệp video gửi giám định - Thể hiện trong Phụ lục kèm theo.

Sau giám định, Phòng K1 đã niêm phong, hoàn trả lại 02 chiếc USB chứa dữ liệu hình ảnh vụ gây rối trật tự công cộng trên và các tài liệu giám định để đưa vào hồ sơ vụ án theo quy định.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 110/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên các bị cáo Mai Tiến D, Nguyễn Văn C, Đỗ Công Đ cùng các bị cáo khác đã rút kháng cáo và không kháng cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51; (thêm điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Đỗ Công Đ); Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 136; Khoản 1; Điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt Mai Tiến D 36 (ba sáu) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 26/7/2024. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án; Xử phạt Nguyễn Văn C 24 (hai tư) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án và xử phạt Đỗ Công Đ 27 (hai bảy) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 09/4/2024. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt tù đối với các bị cáo khác không kháng cáo, xử lý vật chứng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn kháng cáo, các bị cáo Mai Tiến D, Nguyễn Văn C và Đỗ Công Đ đều có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo khác vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên.

Luật sư bào chữa cho Mai Tiến D có ý kiến: Đồng ý với quan điểm của Đại

6

diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên cho rằng bị cáo Mai Tiến D thành khẩn khai báo và bồi thường khắc phục hậu quả cho bị cáo T4 20.000.000đ và bồi thường gậy bi-a cho chị T1 chủ quán bi-a nên đề nghị HĐXX áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của BLHS giảm nhẹ cho bị cáo mức án dưới khung hình phạt. Đồng thời có quan điểm đề nghị HĐXX hoãn phiên toà để thu thập thêm chứng cứ là Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi gây thương tích của các bị cáo trong vụ án.

Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hoá sau khi nghe quan điểm bào chữa của Luật sư, phân tích tính chất vụ án, nhân thân, động cơ mục đích, hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa, đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Công Đ và Nguyễn Văn C giữ nguyên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên. Đề nghị áp dụng. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Mai Tiến D giảm cho bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được lỗi lầm, hứa không vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn kháng cáo, xem xét giải quyết nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đều thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể:

Xuất phát từ mâu thuẫn bột phát trong quá trình điều khiển xe mô tô tham gia giao thông giữa Lê Công T4 và Nguyễn Văn T5, Mai Tiến D nên vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 22/7/2023, tại đường ra cảng cá L, thuộc tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, 02 nhóm đối tượng, gồm nhóm các bị cáo Hoàng Nhật C2, Mai Tiến D, Nguyễn Văn T5 và nhóm các bị cáo Lê Công T4, Nguyễn Văn C, Hoàng Bá Q1, Nguyễn Văn C, Đỗ Công Đ đã có hành vi cùng hung khí là dao, gậy bi-a, dây thắt lưng, vỏ chai thuỷ tinh, gạch cốm lùa đuổi, đánh nhau gây thương tích trong khu vực quán B2 ở thời điểm quán đang hoạt động và có khách chơi bi-a, sau đó các đối tượng còn lùa đuổi, đánh nhau trên đoạn đường giao thông dài khoảng 30m, trong thời gian khoảng 10 phút. Hành vi của các bị cáo đã gây náo loạn khu vực quán, đường giao thông và dân

7

cư xung quanh, làm mất trật tự nơi công cộng, gây thiệt hại đến sức khỏe của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Để đảm bảo trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết, cũng là bài học để răn đen và phòng ngừa chung.

Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho các bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[3] Về quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Mai Tiến D đề nghị hoãn phiên toà và đề nghị áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của BLHS, HĐXX nhận thấy: Bị cáo Mai Tiến D có hành vi sử dụng gậy bi-a cùng các bị cáo khác trong vụ án đánh gây thương tích cho Lê Công T4, nhưng T4 cũng rút yêu cầu khởi tố, từ chối giám định nên Cơ quan Điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Công an thị xã N để xử phạt vi phạm hành chính đối với D và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật. Việc Công an thị xã N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính hay chưa trong hồ sơ vụ án không thể hiện hơn nữa đề nghị hoãn phiên toà để thu thập các quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây thương tích của các bị cáo trong vụ án là không cần thiết, không làm thay đổi bản chất vụ án, tội danh, khung hình phạt của các bị cáo mà chỉ làm xấu đi tình trạng của các bị cáo đang kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo D bồi thường dân sự cho T4 hay chị T1 (chủ quán bi-a) là để thoả thuận và khắc phục hậu quả đối với hành vi gây thương tích, không liên quan đến tội gây rối trật tự công cộng. Do đó quan điểm bào chữa trên của Luật sư là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

[4] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo của các bị cáo Mai Tiến D, Nguyễn Văn C, Đỗ Công Đ:

[4.1] Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo như: Đỗ Công Đ phạm tội có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Mai Tiến D: Ngày 09/01/2024, bị Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác. Các bị cáo trong quá trình điều tra, xét xử đều thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Tình tiết giảm nhẹ nói trên cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp với quy định của pháp luật.

8

[4.2] Tại cấp phúc thẩm bị cáo Đỗ Công Đ không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới nào, các bị cáo Chung và D có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cụ thể: Bị cáo Chung tích cực tham gia ủng hộ đồng bào bị lũ lụt do cơn bão số 3 gây ra cũng như các chương trình từ thiện khác được UBMT Tổ quốc cũng như chính quyền địa phương phát động, có ông nội Nguyễn L1 là người có công với cách mạng. Bị cáo Mai Tiến D quá trình sinh sống tại địa phương đã tích cực tham gia ủng hộ nạn nhân chất độc da cam-điôxin, ủng hộ người khuyết tật và trẻ em mồ côi, có ông bà nội và ông bà ngoại đều là người có công với cách mạng. Tại đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận và đề nghị Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét giảm nhẹ hình phạt để được cải tạo tại địa phương. Do đó được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[4.3] HĐXX nhận thấy tại cấp phúc thẩm, bị cáo D và C đều có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, khi Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, điều đó thể hiện sự ăn năn hối cải, hối hận với việc làm của mình. Đối với Đỗ Công Đ phạm tội có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, Mai Tiến D mặc dù không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Song bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Cơ quan Công an xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”; Nguyễn Văn C và có vai trò thực hành tích cực, cùng tham gia lùa đuổi, đánh nhau, gây rối với các đồng phạm khác, vậy nên cần tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới cũng như nhân thân của các bị cáo. HĐXX xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Mai Tiến D để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình, xã hội. Bị cáo Đ phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm”, tại cấp phúc thẩm không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác. Riêng bị cáo Chung ở cấp phúc thẩm mặc dù có thêm tình tiết mới tuy nhiên tại Báo cáo số 137/BC-CAHB ngày 04/02/2024 của Công an phường H gửi Cơ quan CSĐT Công an thị xã N có nội dung: “Nguyễn Văn C không thường xuyên có mặt tại địa phương và chưa có công việc ổn định. Quá trình sinh sống tại địa phương chưa chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”; Hơn nữa các đoàn thể và chính quyền địa phương phường H đều có văn bản đề nghị xử lý nghiêm đối với các bị cáo trong vụ án này. Cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt tù ở mức đầu khung cho bị cáo C là phù hợp, do đó HĐXX không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ và C, cần giữ nguyên hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên.

[6] Từ phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX nhận thấy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Công Đ, Nguyễn Văn C là không có căn cứ

9

chấp nhận; Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Mai Tiến D là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đề nghị HĐXX áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Mai Tiến D, sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

[7] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Mai Tiến D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Đỗ Công Đ, Nguyễn Văn C phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng của bị cáo Đỗ Công Đ và Nguyễn Văn C.

Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Mai Tiến D. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 110/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt.

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Công Đ, Mai Tiến D và Nguyễn Văn C phạm “Tội gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

1. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Công Đ 27 (hai bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (09/4/2024). Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

2. Xử phạt: Bị cáo Mai Tiến D 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (26/7/2024). Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Mai Tiến D không phải chịu án phí hình sự phúc. Bị cáo Đỗ Công Đ và Nguyễn Văn C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

10

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - TAND, VKSND Cấp cao HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an TX Nghi Sơn, TH;
  • - TAND, VKSND TX Nghi Sơn, TH;
  • - Chi cục THADS TX Nghi Sơn, TH;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Quốc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 217/2024/HS-PT ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự phúc thẩm (tội gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 217/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Công Đ + Đp “Tội gây rối trật tự công cộng”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger