Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-PT

Ngày 16 - 4 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Đinh Thị Quý Chi
  • Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Bình, Bà Lê Hồng Hạnh
  • Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chí Thọ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Chuyên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12/4/2024 và 16/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 16/2024/HSPT ngày 26/02/2024 đối với bị cáo Trần Ngọc A, do có kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HSST ngày 07/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Ngọc A, sinh ngày 17/10/1988, tại Hưng Yên; tên gọi khác: Không; HKTT: Thôn B, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Chổ ở: Ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V và bà Trịnh Thị Kim T; Vợ Trần Thị T1, sinh năm 1989. Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án: Không; Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2023 cho đến nay. Bị cáo mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trương Thanh T2 - công ty L thuộc đoàn luật sư thành phố H (có mặt)

Ngoài ra, vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác, nhưng những người này không có kháng cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ, ngày 28/4/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tại quán K thuộc khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước có một số đối tượng có biểu hiện nghi vấn tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn L tiến hành kiểm tra phòng số 02 bắt quả tang Trần Ngọc A, Mai Thị Ngọc T3 và Võ Hồng T4 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 dĩa sứ màu trắng bên trên có chứa chất rắn màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ S TRAN NGOC ANH, trên bề mặt thẻ có bám dính chất rắn màu trắng, 01 tờ tiền Polime mệnh giá: 20.000 đồng được cuộn tròn có bám dính chất màu trắng, 01 bóp da màu đen, 01 căn cước công dân mang tên Trần Ngọc A, 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Ngọc A, 20.000 đồng, 01 ĐTDĐ Iphone 8 có gắn sim 0901072866, 01 tờ tiền 1000 đồng, có dính chất màu trắng, 01 ĐTDĐ Iphone 8 màu hồng bị bể màn hình và mặt kính phía sau có gắn sim 07988568837, 01 ĐTDĐ Iphone 12 Pro màu xanh đen bị bể màn hình có gắn sim 0708963895; 01 vỏ gói thuốc vinabata màu xanh, 01 quẹt gas màu vàng.

Tách chất rắn màu trắng trong dĩa sứ màu trắng kích thước (18 x18)cm vào trong 01 bịch nylon màu trắng dạng khóa miết kích thước (9,5 x 6)cm niêm phong ký hiệu M1; 01 dĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ S TRAN NGOC ANH, 01 tờ tiền Polime mệnh giá: 20.000 đồng được cuộn tròn thành ống hút dài 14 cm niêm phong ký hiệu M2; 01 tờ tiền 1000 đồng dính chất rắn màu trắng niêm phong ký hiệu M3.Vật chứng được niêm phong và gửi đi giám định.

- Căn cứ Kết luận giám định số: 495/KL(MT) – KTHS ngày 29/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chất bột màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đi giám định là ma túy, loại Ketamine có khối lượng 0,2211 gam; chất bột màu trắng (ký hiệu M2, M3) bám dính trên dĩa sứ, thẻ nhựa và tờ tiền được niêm phong gừi đi giám định là ma túy loại Ketamine, không xác định được khối lượng do mẫu ở dạng vết.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 05/2024/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tính tù từ ngày 28/4/2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 26/01/2024, bị cáo Trần Ngọc A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng Cơ quan tiến hành tố tụng chưa làm rõ các vấn đề sau: trước khi vào phòng số 2 của quán K thì Võ Hồng T4 có sử dụng ma túy hay không. Quá trình tố tụng ông đã yêu cầu hoãn để điểu tra bổ sung, nhưng tòa án cấp sơ thẩm vẫn phớt lờ và cho rằng đã được thực hiện trong hồ sơ vụ án rồi; bị cáo không bàn bạc và quen biết T4 và T3, trong điện thoại của bị cáo không hề có sự liên lạc với T4 và T3; trong điện thoại của T4 và T3 cũng không hiển thị số điện thoại liên lạc của bị cáo; chưa làm rõ vai trò của T3 và T4 trong vụ án; Tại các bút lục số 92, 93, biên bản ngày 1/5, ngày 5/5, ngày 20/5, ngày 7/11/2023 có sự mâu thuẫn về lời khai của T4; tại phiên tòa sơ thẩm: bị cáo có khai là T4 đi vô thì công an mới ập vô để bắt quả tang; lời khai của T4 khai đã sử dụng, vô rồi hát rồi mới sử dụng, đó là sự mâu thuẫn trong lời khai nhưng chưa làm rõ xem trước đó T4 có sử dụng ma túy hay không; yêu cầu xác minh thu thập chứng cứ không thể hiện tại cơ quan điều tra mà phải thực hiện tại phiên tòa để tránh oan sai; Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh vi phạm nghiêm trọng về mặt tố tụng, xác định Mai Thị Ngọc T3 và Võ Hồng T4 với tư cách tham gia tố tụng là người làm chứng là không đúng, vì T3 và T4 cùng nhau sử dụng với bị cáo Trần Ngọc A thì phải xác định T3 và T4 là đồng phạm chứ không phải là người làm chứng; có những tình tiết mới và chưa thống nhất được vai trò của T3 và T4 trong vụ án đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ; bị cáo có thành tích khai nhận với cơ quan điều tra về đối tượng B, giúp cơ quan điều tra có kế hoạch cho việc truy quét tội phạm nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này. Ngoài ra, vào tháng 01/2024, ông có làm khiếu nại lên Chánh án Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước nhưng không được phản hồi.

Ông đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ những vấn đề nêu trên để tránh việc oan sai.

- Bị cáo cho rằng mình không đưa chất ma túy vào cơ thể người khác, không cho T4 sử dụng ma túy, không phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Trường hợp bị cáo có phạm tội thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo mức án 07 (B1) năm tù về là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới so với cấp sơ thẩm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc A; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc A được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Ngọc A: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Ngọc A cho rằng bị cáo không đưa chất ma túy vào cơ thể người khác, không cho T4 sử dụng ma túy nên không phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Còn nếu bị cáo phạm tội thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Mai Thị Ngọc T3 và Võ Hồng T4 tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng là không đúng mà phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới đúng.

Hội đồng xét xử xét:

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm: bị cáo vẫn khẳng định quá trình điều tra bị cáo không bị ai sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ khác để ép buộc bị cáo phải trình bày lời khai trái với mong muốn và ý chí của mình tại cơ quan điều tra.

[4] Xét thấy, tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 28/4/2023 (bút lục 01), các Bản tường trình do bị cáo tự tay viết vào các ngày 24/4/2023, 08/5/2023 cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận sau khi đã cùng T3 hát Karaoke trong quán được khoảng 30 phút thì bị cáo mới thực hiện việc gọi cho B để mua ma túy sử dụng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đã sử dụng bằng cách bị cáo hít 01 lượt trước rồi cho T3 sử dụng bằng cách hít 02 lượt. Đối với T4, quá trình điều tra, xét xử bị cáo khai chính bị cáo là người kêu T4 vào phòng. Tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các bản tường trình trên bị cáo thừa nhận: bị cáo lấy dĩa sứ chứa ma túy cầm trên tay và đứng gần chỗ màn hình karaoke, bên tay trái là T3, bên tay phải là T4, bị cáo đang tiếp tục sử dụng ma túy cùng với T3 và T4 thì bị lực lượng Công an kiểm tra; mặc dù, bị cáo không thừa nhận việc cho T4 sử dụng ma túy mà cho rằng T4 tự ý lấy ma túy hít lúc nào bị cáo không biết nhưng tại Biên bản ghi lời khai lúc 21 giờ 30 phút ngày 28/4/2023 bị cáo khai: “...tôi để sẵn ma túy trên đĩa để trên bàn, ai vào phòng sử dụng thì sử dụng...” (bút lục 94) hay tại Biên bản ghi lời khai ngày 05/5/2023 bị cáo khai: “Mục đích tôi đến quán là để hát karaoke, sau đó có nhu cầu sử dụng ma túy nên tôi gọi điện thoại mua ma túy đến quán sử dụng cùng với T3 và T4...” (bút lục 101). Trong khi, suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm T4 đều khai: sau khi T4 bước vào phòng, bị cáo chỉ dĩa ma túy khay để trên bàn nên T4 hiểu ý là Ngọc A nói T4 sử dụng ma túy nên T4 cầm ống hút làm bằng tờ tiền và hít bằng mũi. Đồng thời, cả T3 và T4 đều thừa nhận khi cả ba đang đứng chụm đầu xung quanh dĩa sứ ma túy chuẩn bị tiếp tục sử dụng thì bị Công an ập vào kiểm tra. Như vậy, do bị cáo có hành vi cung cấp chất ma túy, dụng cụ để hút ma túy (cuốn tờ tiền làm ống hút, thẻ nhựa của ngân hàng làm dụng cụ kẻ ma túy, hộp quẹt ga hay còn gọi là bật lửa) cho người khác (T4 và T3) sử dụng ma túy nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội này là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

[5] Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Ngọc A, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[5.1] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ban đầu bị cáo không thành khẩn nhưng sau khi tranh luận bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội; trước đây, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và có thành tích trong công tác được tặng giấy khen. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đồng thời xử phạt bị cáo mức hình phạt 07 năm tù là mức án khởi điểm nhẹ nhất của khung hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào khác so với các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo. Do bị cáo đã được áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt và không có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không đủ điều kiện để áp dụng mức án thấp hơn theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự. Nên, kháng cáo của bị cáo không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HSST ngày 07/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh về phần này.

[5.2] Về việc bị cáo cho rằng T3 và T4 phải được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không phù hợp nên không được chấp nhận.

[6] Đối với quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm trả hồ sơ điều tra bổ sung vì cho rằng:

  • [6.1] - Tòa án cấp sơ thẩm có một số vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như xác định tư cách tham gia tố tụng của T3 và T4 chưa chính xác (T3 và T4 phải là đồng phạm chứ không phải là người làm chứng); chưa làm rõ trước khi trước khi vào phòng số 2 của quán K thì Võ Hồng T4 có sử dụng ma túy hay không; lời khai của T3, T4 với bị cáo còn nhiều mâu thuẫn chưa làm rõ: Hội đồng xét xử xét thấy rằng những nội dung này không làm ảnh hưởng đến việc xác định tội danh, khung hình phạt, không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác do đã được Tòa sơ thẩm làm rõ tại phiên tòa.
  • [6.2] - Bị cáo có thành tích khai nhận với cơ quan điều tra về đối tượng B, giúp cơ quan điều tra có kế hoạch cho việc truy quét tội phạm nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết này nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng: Xét thấy, đến nay ngoài việc bị cáo khai đối tượng bán ma túy cho bị cáo tên là B thì bị cáo không cung cấp được họ tên đầy đủ, nơi cư trú cũng như những thông tin khác nên cơ quan tiến hành tố tụng đến nay cũng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Việc bị cáo chỉ khai mình mua ma túy của đối tượng có tên là B trong trường hợp này không phải là một trong các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  • [6.3] Về việc Luật sư đề nghị Tòa trả hồ sơ điều tra bổ sung: theo quy định tại Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định về Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm không có thẩm quyền trả hồ sơ đều tra bổ sung nên quan điểm của Luật sư là không có căn cứ chấp nhận.
  • [6.4] Đối với việc Luật sư cho rằng vào tháng 01/2024, ông có làm khiếu nại lên Chánh án Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước nhưng không được phản hồi: đây là thủ tục khiếu nại tư pháp về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng nên không thuộc phạm vi giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

[8] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[9] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc A; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Tuyên bố: bị cáo Trần Ngọc A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tính tù từ ngày 28/4/2023.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - PV (06)-CA tỉnh Bình Phước;
  • - TAND, VKSND huyện Lộc Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Lộc Ninh;
  • - Công an huyện Lộc Ninh;
  • - CQCSĐT Công an huyện Lộc Ninh;
  • - CQTHAHS Công an huyện Lộc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Phước;
  • - UBND xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh;
  • - TỔ HCTP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Thị Quý Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 17/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Anh mua ma túy đến phòng hát rồi cho các tiếp viên sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger