TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HS-PT-CTN Ngày 10 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thuận Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng và ông Cao Minh Lễ.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLPT-HS-CTN ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Minh T cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Minh T, Nguyễn Ngọc Minh K và Hồ Minh D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Huỳnh Minh T, sinh ngày 29/01/2007 tại L, An Giang; nơi cư trú: Số A, tổ A, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Minh T1 và bà Lê Thị Huỳnh T2; vợ, con: Chưa có;
Nhân thân: Ngày 09/6/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 07/12/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 23/02/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang chấp hành án trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L từ ngày 04/3/2023 đến nay (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Huỳnh Minh T: Bà Lê Thị Huỳnh T2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số A, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Minh T: Bà Phạm Thanh Ái D1 - Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang (có mặt).
- Nguyễn Ngọc Minh K1 (tên gọi khác Thổ Đ), sinh ngày 31/8/2006 tại huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T3 và bà Nguyễn Ngọc T4; vợ, con: Chưa có;
Nhân thân: Ngày 07/12/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, bị cáo kháng cáo và đã được Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm bằng Bản án số 07/2024/HS-PT-CTN ngày 23/4/2024, sửa bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo K1 01 năm 06 tháng tù về 02 tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và cho bị cáo được hưởng án treo;
Tiền án, tiền sự: Không (bị cáo tại ngoại có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Ngọc Minh K: Ông Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang và bà Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (ông T3, bà T4 có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Minh K: Bà Văng Thị V - Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang (có mặt).
- Hồ Minh D (tên gọi khác Hồ P), sinh ngày 15/10/2006 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn H và bà Lê Kim L; vợ, con: Chưa;
Tiền án, tiền sự: Không (bị cáo tại ngoại có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hồ Minh D: Ông Hồ Văn H, sinh năm 1972 và bà Lê Thị Kim L1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (ông H vắng mặt, bà L1 có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Minh D: Bà Văng Thị V - Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang (có mặt).
Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Minh T, sinh ngày 29/01/2007, do có mâu thuẫn từ trước với nhóm của Ngô Kiều M, Hồ Thái T5. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03/3/2023, T điện thoại cho
Trần Hồng Trấn V1, sinh ngày 06/01/2008 và Huỳnh Nam K2, sinh ngày 02/7/2009 rủ đi tìm đánh nhóm của M thì tất cả đồng ý. Sau đó, V1 rủ thêm Nguyễn Chung H1, sinh ngày 16/4/2006, Hồ Minh T6, sinh ngày 01/02/2010, Võ Ngọc H2, sinh ngày 23/9/2007, Đặng Trọng P1, sinh ngày 11/10/2008, Võ Văn L2, sinh ngày 16/9/2007, Nguyễn Hồng S, sinh ngày 18/4/2008, Lê Thanh S1, sinh ngày 17/02/2008, Nguyễn Tấn Vỹ K3, sinh ngày 09/10/2008, Huỳnh Phước T7, sinh ngày 30/3/2008, Hồ Minh D, sinh ngày 15/10/2006, Nguyễn Ngọc T8, sinh ngày 09/12/2005 và Nam K2 rủ thêm Nguyễn Ngọc Minh K, sinh ngày 31/8/2006, Phan Văn K4, sinh ngày 04/7/2008, Huỳnh Hải D2, sinh ngày 21/6/2005, Võ Ngọc K5, sinh ngày 14/6/2008, Trần Văn N, sinh ngày 05/3/2008, Dương Quốc T9, sinh ngày 19/01/2008, Nguyễn Hữu H3 (chưa rõ nhân thân). Lúc này, V1 nói với H1, T6, H2, P1, L2, Hồng S, Thanh S1, Vỹ K3, T7, D, T8, còn Nam K2 nói với Văn S2, K, Văn K4, D2, Ngọc K5, T9, H3 đi đánh nhóm của M thì tất cả đều đồng ý. Triết hẹn cả nhóm đến nhà T thuộc khóm T, phường M, thành phố L để lấy hung khí. Đến đây, T rủ thêm Phạm Văn S3, sinh ngày 20/9/2007, tiếp theo T đưa cho T7, Hồng S, T6, K, Ngọc K5, N, T9, Văn S3, D2 mỗi người 01 con dao dài khoảng 60cm, lưỡi sắc nhọn; đưa cho L2, V1 cây búa tự chế dài khoảng 50cm, lưỡi sắc. Sau đó, T điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở Văn S3, H3 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở K2 và K, Văn K4 điều khiển xe mô không rõ biển số chở Ngọc K5; Thanh S1 điều khiển xe mô tô biển số 67AL-069.40 chở N; H2 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở T9; H1 điều khiển xe mô tô biển số 67C1-649.21 chở D2 và V1; K2 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở T7; D điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở T6; P1 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở L2, T8 điều khiển xe mô tô biển số 67C1-649.21 chở Hồng S. Triết điều khiển xe chở Văn S3 chạy trước dẫn đường, các đối tượng còn lại chạy theo sau.
Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 03/3/2023, cả nhóm điều khiển xe đến tiệm game bắn cá của chị Phan Thị T10 ở số B, đường T, khóm Đ, phường M, thành phố L, T gặp T5, M thì cùng Nam Khang truy hô “nó kìa” và cả nhóm dừng xe, tất cả các đối tượng ngồi sau cầm hung khí xông vào đuổi chém những người đang trong tiệm game gồm T5, M, Võ Hận H4, Hồ Nguyễn Thảo N1, Nguyễn Lý Nhất H5 nhưng những người này đã thoát chạy. Do tức giận không chém được người nào nên Hồng S dùng dao đập vào màn hình 02 máy game bắn cá, còn D2, T9, L2, Ngọc K5 dùng dao đập kính các cửa sổ bên trong tiệm game của bà T10 gây hư hỏng, tiếp đó T7, T6, V1, L2, Văn S3, D2, T9 cầm dao, búa chém vào dàn áo, cụm đèn pha, cụm đồng hồ km, cụm đuôi gắn đèn và biển số 67B2-327.79 của xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria Indonesia của M; còn T7, V1, L2, Văn S3, Ngọc K5, T9 cầm dao, búa chém bộ ốp hông trái phải, dè chắn bùn sau, ốp trước sau đầu đèn, mê ca đồng hồ km, cụm đèn pha, bửng chắn bùn phải, vỏ yên xe của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha S4, biển số 67B1-504.91 của N1 dựng trước tiệm game rồi cả nhóm lên xe mô tô bỏ đi. Đến ngày 04/3/2023, Ủy ban nhân dân phường M có Công văn số 89/CV-UBND kiến nghị xử lý các đối tượng gây rối trật tự công cộng tại khu vực nêu trên.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius Fi, màu đỏ đen biển số 67B1-504.91; xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria, màu đen biển số 67B2-327.79; 01 đoạn video do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L thu giữ tại tiệm game bắn cá của chị Phan Thị T10 ở số B, đường T, khóm Đ, phường M,
thành phố L.
Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 29/KL.HĐ ngày 08/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L, xác định tài sản hư hỏng gồm: 02 màn hình LCD TLC 55inch + kính cường lực hư hỏng 100%, thiệt hại 10.200.000đ; 04 tấm kính, màu trà, dầy 05 li, kích thước 0,37m x 0,92m hư hỏng 100%, thiệt hại 333.200 đồng; 01 bộ áo, cụm đèn pha, cụm đồng hồ km, cụm đuôi gắn đèn, biển số của xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria Indonesia hư hỏng 100%, công thợ, thiệt hại 4.704.000 đồng; 01 bộ ốp hông bên trái phải, dè chắn bùn sau, ốp trước sau đầu đèn, mê ca đồng hồ km, cụm đèn pha, bửng chắn bùn phải, vỏ yên xe của xe mô tô nhãn hiệu S4 hư hỏng 100%, công thợ, thiệt hại 950.000 đồng. Tổng trị giá tài sản thiệt hại là 16.187.200 đồng.
Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 29/8/2023 của Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố L, xác định: Xe mô tô biển số 67B2-327.79, số khung MH8DL11AZJJ174443; số máy CGA1ID174451, chủ xe Ngô Kiều M, nơi cư trú: Số E, khóm Đ, phường Đ, thành phố L.
Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 29/8/2023 của Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố L, xác định: Xe mô tô biển số 67B1-504.91, số khung RLC1FC30EY041619; số máy 1FC3041629, chủ xe Ngô Tấn L3, nơi cư trú: Số E, khóm T, phường M, thành phố L.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 26/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Minh T, Nguyễn Ngọc Minh K, Hồ Minh D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Minh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt, bị cáo Nguyễn Ngọc M1 Khoa 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Đối với số tiền còn lại là 17.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Ngọc Minh K và ông Nguyễn Thanh T3, bà Nguyễn Ngọc T4 phải tiếp tục liên đới bồi thường cho bà Phan Thị T10 333.000 đồng, các bị cáo Huỳnh Hải D2, Huỳnh Minh T, Nguyễn Ngọc T8, Hồ Minh D và người đại diện hợp pháp ông Huỳnh Minh T1, bà Lê Thị Huỳnh T2 (cha, mẹ đẻ T), Hồ Văn H, Lê Kim L (cha, mẹ đẻ bị cáo D) và ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị V2 (cha, mẹ đẻ của bị can H1, đã chết) phải liên đới bồi thường cho bà Phan Thị T10 số tiền 16.667.000 đồng. Xử lý vật chứng, tính án phí, tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/5/2024 và 03/5/2024, các bị cáo Huỳnh Minh T, Nguyễn Ngọc Minh K và Hồ Minh D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Minh T rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo; các bị cáo Nguyễn Ngọc Minh K và Hồ Minh D vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp của các bị cáo Nguyễn Ngọc Minh K và Hồ Minh D xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo; trong đó, bị cáo K vừa nhận được thông báo trúng tuyển Đại học N2 để tiếp tục học tập và có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357; khoản 1 Điều 342; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm kháng cáo của bị cáo Huỳnh Minh T. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc M1 Khoa và Hồ Minh D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, theo hướng giảm hình phạt tù đối với bị cáo K từ 06 tháng đến 01 năm; giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo D nhưng cho bị cáo D hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Người bào chữa cho các bị cáo có quan điểm: Thống nhất về tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Ngọc Minh K và Hồ Minh D. Tuy nhiên, cho rằng mức hình phạt tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng có phần nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo.
Các bị cáo Nguyễn Ngọc Minh K và Hồ Minh D nhất trí với bản luận cứ bào chữa, đồng thời không có bào chữa hoặc tranh luận thêm gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Minh T, Nguyễn Ngọc Minh K và Hồ Minh D làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Ngọc Minh K và Hồ Minh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, lời khai của bị hại, của người có liên quan, người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 03/3/2023, các bị cáo Huỳnh Minh T, Huỳnh Hải D2, Nguyễn Ngọc Minh K, Nguyễn Chung H1, Nguyễn Ngọc T8, Hồ Minh D thừa nhận cùng với Trần Hồng Trấn V1, Võ Ngọc K5, Trần Văn N, Nguyễn Tấn Vỹ K3, Lê Thanh S1, Huỳnh Phước T7, Đặng Trọng P1, Hồ Minh T6, Dương Quốc T9, Võ Văn L2, Võ Ngọc H2, Huỳnh Nam K2, Phạm Văn S3 dùng hung khí xông vào tiệm game bắn cá của bà Phan Thị T10 tìm đánh Ngô Kiều M, Hồ Thái T5, còn Nguyễn Hồng S dùng dao đập vào màn hình 02 máy game bắn cá, Huỳnh Hải D2, Dương Quốc T9, Võ Văn L2, Võ Ngọc K5 dùng dao đập kính các cửa sổ bên trong tiệm game của bà T10 gây hư hỏng. Riêng Huỳnh Hải D2 cùng với Huỳnh Phước T7, Hồ Minh T6, Trần Hồng Trấn V1, Võ Văn L2, Phạm Văn S3, Dương Quốc T9, Trần Hồng Trấn V1, Võ Ngọc K5 cầm dao, búa chém, đập phá xe mô tô của bà Ngô Kiều M, bà Hồ Nguyễn Thảo N1. Hành vi của các bị cáo và đồng phạm đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cố ý làm hư hỏng tài sản cho các bị hại. Hậu quả làm hư hỏng tổng trị giá tài sản là: 16.187.200 đồng.
Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Ngọc Minh K và Hồ Minh D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và xử phạt các bị cáo ở mức thấp nhất dưới khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Minh T tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, vì vậy đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T.
[5] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Ngọc M1 Khoa và Hồ Minh D, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, các bị cáo K và D là đồng phạm thực hiện hành vi với vai trò tích cực. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt Nguyễn Ngọc M1 Khoa 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù và Hồ Minh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà các bị cáo đã gây ra.
Đối với kháng cáo của bị cáo K, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo và luận cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo chỉ phù hợp một phần với quy định của pháp luật. Cụ thể, đối với hình phạt thì do bị cáo phạm tội ở độ tuổi chưa thành niên nên xem xét giảm nhẹ thêm một phần hình phạt cho bị cáo K. Riêng về việc người bào chữa đề nghị xem xét cho bị cáo K được hưởng án treo là chưa đủ cơ sở theo quy định của pháp luật về điều kiện được hưởng án treo, do trước đó, bị cáo K đã bị Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm bằng Bản án số 07/2024/HS-PT-CTN ngày 23/4/2024, sửa bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo K 01 năm 06 tháng tù về 02 tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và cho bị cáo được hưởng án treo; thế nên quan điểm của V3 đại diện Viện kiểm sát chỉ
đề nghị giảm mức hình phạt tù nhưng không cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ,
Thấy rằng, tại thời điểm phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nhất định; các bị cáo đập phá tài sản gây hỗn loạn, mất an ninh trật tự tại địa phương, trường hợp xấu có thể ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Quá trình tố tụng, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, gia đình các bị cáo cũng đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại. Do đó, để đảm bảo nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên là bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giảm một phần hình phạt bị cáo K và giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo D nhưng cho bị cáo D được hưởng án treo. Đây cũng là cơ hội để các bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm. Như vậy, yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc M1 Khoa và Hồ Minh D được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Cấp sơ thẩm đã quyết định phần bồi thường thiệt hại và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo Nguyễn Ngọc Minh K đã tự nguyện khắc phục hậu quả 4.000.000 đồng (kèm theo đơn xin bãi nại của bị hại là bà Phan Thị T10 ngày 08/5/2024). Gia đình bị cáo Hồ Minh D đã tự nguyện khắc phục hậu quả 3.500.000 đồng (kèm theo đơn xin bãi nại của bị hại là bà Phan Thị T10 ngày 17/5/2024). Xét, đây là sự tự nguyện và đã được thực hiện trước phiên toà phúc thẩm nên Hội đồng xét xử công nhận nhưng không thể hiện tại phần quyết định của bản án.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357; khoản 1 Điều 342; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Huỳnh Minh T. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc M1 Khoa và Hồ Minh D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Minh K và bị cáo Hồ Minh D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M1 Khoa 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù
tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Hồ Minh D 01 (một) năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Hồ Minh D cho Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Huỳnh Minh T, Nguyễn Ngọc Minh K và Hồ Minh D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thuận Lợi |
Bản án số 17/2024/HS-PT-CTN ngày 10/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 17/2024/HS-PT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
