|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31-5-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
giữa chị Thông và anh Đồng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Văn Sơn.
- Ông Nguyễn Kim Khánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 166/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 15/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T, sinh năm 1979.
- - Bị đơn: Anh Hồ Văn Đ, sinh năm 1976.
- Cùng địa chỉ: Số E, khu phố G, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
- (Nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn – chị Huỳnh Nguyễn Thị N T xin xét xử vắng mặt. Tại đơn khởi kiện đề ngày 24-7-2023 và trong quá trình tham gia tố tụng, chị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Văn Đ tự nguyện sống chung, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, tỉnh Ninh Thuậntheo Giấy chứng nhận kết hôn số 89, quyển số I/2000. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống không phù hợp, hay cãi vã, anh Đ1 lần nhậu nhẹt, say xỉn, đánh đập vợ con, đập phá đồ đạc, hai người không còn sống chung từ tháng 6/2023 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị xin được ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Hồ Thị T1 T1, sinh ngày 15/9/1998, Hồ Ngọc P Ysinh ngày 27/8/2001, Hồ M T2sinh ngày 29/12/2008. Khi ly hôn, chị xin được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2 và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu T1 và cháu Y trên 18 tuổi, có việc làm ổn định, lo được cho bản thân nên không chị yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Tại phiên tòa, bị đơn là anh Hồ Văn Đ vắng mặt:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Đ theo đúng quy định nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T3
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định về việc xác định thẩm quyền giải quyết, quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng,... Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
2. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự:
- Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự như làm khởi kiện, cung cấp chứng cứ, tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ tại Toà án,...
- Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, mặc dù được Tòa án đã tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn biết nhưng bị đơn không tham gia, không có ý kiến trình bày.
3. Về việc giải quyết vụ án:
Tình trạng hôn nhân của chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T và anh Hồ Văn Đ đã mâu thuẫn trầm trọng. Nay chị T xin giải quyết cho ly hôn với anh Đ, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T, cụ thể như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T được ly hôn với anh Hồ Văn Đ.
- - Về con chung: Giao con chung là Hồ Minh T4, sinh ngày 29/12/2008 cho chị T nuôi dưỡng. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị T không yêu cầu.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.
- - Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp:
Chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Hồ Văn Đ và giải quyết vấn đề con chung, không yêu cầu giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn – anh Hồ Văn Đ có địa chỉ cư trú tại khu phố G, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
[1.3] Xử lý về sự vắng mặt của đương sự:
Chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Hồ Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không lý do và không có ý kiến trình bày, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T và anh Hồ Văn Đ tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, tỉnh Ninh Thuậntheo Giấy chứng nhận kết hôn số 89, quyển số I/2000. Căn cứ Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân giữa chị T và anh Đ là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn, chị T5 bày nguyên nhân vì bất đồng quan điểm, hay cãi vã, lối sống không phù hợp, anh Đ2 đánh đập mẹ con chị, đập phá đồ đạc, mâu thuẫn đến mức trầm trọng nên chị đề nghị giải quyết cho ly hôn với anh Đ.
Quá trình giải quyết, anh Đ đã được niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho anh đến Tòa giải quyết nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến trình bày. Điều này chứng tỏ anh không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình, không có ý muốn hàn gắn tình cảm với chị T3 Xác minh tại địa phương cũng thể hiện anh chị vì mâu thuẫn nên không còn chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đủ cơ sở kết luận: Hôn nhân giữa chị T và anh Đồng lvào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đ là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nên được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Chị T và anh Đ có 03 con chung là Hồ Thị T1 T1sinh ngày 15/9/1998, Hồ Ngọc P Ysinh ngày 27/8/2001 và Hồ M T2sinh ngày 29/12/2008. Khi ly hôn, chị T6 được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T4, không yêu cầu anh Đcấp dưỡng nuôi con. Cháu T1 và cháu Y trên 18 tuổi, có việc làm ổn định, tự lo cho bản thân được nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét ý kiến của chị T, nguyện vọng của cháu T4, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và qua tham khảo ý kiến của địa phương, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận ý kiến của chị T, giao cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Hồ M T2. Chị T và cháu T2đều không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung:
Đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét.
[3] Về án phí:
Chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:
Chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T7 anh Hồ Văn Đ được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Nguyễn Thị N T3
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T, sinh năm 1979 và anh Hồ Văn Đ3 năm 1976.
- - Về nuôi con chung: Giao con chung là Hồ Minh T2sinh ngày 29/12/2008 cho chị HNguyễn Thị Nguyên T8 tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Hồ Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
- Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Các bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc câp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:
Chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T9 chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0001253 ngày 11/10/2023. Chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn – chị Huỳnh Nguyễn Thị Nguyên T7 Bị đơn – anh Hồ Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Thùy Dung |
Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 17 HNGĐ BA THÔNG - ĐỒNG
