Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21-6-2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Trịnh

Bà Nguyễn Thị Tố Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Đặng Thị Kim T, sinh năm 1988

Địa chỉ: Số A N, khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Dương Ngọc H, sinh năm 1985

Quốc tịch: Việt Nam

Thường trú tại: Xóm I, thôn B, xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội.

Hiện trú tại: F-Ken F Hakata-Ku M C O 323.

Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Đặng Thị Kim T trình bày: Năm 2019, bà và ông Dương Ngọc H đã tự nguyện chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội. Trong thời gian chung sống, chúng tôi có 01 người con tên Dương Ngọc Như Q, sinh ngày 15/8/2019. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã với nhau. Nguyên nhân chủ yếu là ở xa nhau quá lâu, bất đồng quan điểm sống, sinh hoạt. Bà và ông Dương Ngọc H đã ly thân đã lâu, phần ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, tình trạng rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Dương Ngọc H.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có một con chung tên Dương Ngọc Như Q, sinh ngày 15/8/2019. Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con đến 18 tuổi. Đồng thời, yêu cầu ông Dương Ngọc H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền 5.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên trong quá trình hòa giải, bà T đã đề nghị Tòa án không giải quyết về việc yêu cầu ông Dương Ngọc H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền 5.000.000 đồng/tháng, chỉ yêu cầu Tòa án cho bà được tiếp tục nuôi con.

Tại Đơn xin vắng mặt và Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn cùng ngày 21/12/2022 (được Hợp pháp hóa lãnh sự ngày 21/12/2022), bị đơn ông Dương Ngọc H trình bày:

Ông và bà Đặng Thị Kim T kết hôn ngày 08/01/2019 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội. Hiện tại, do tình hình ở xa nhau quá lâu, xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn tình cảm và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết cho ông và bà T được ly hôn, chấm dứt tình trạng hôn nhân.

Về con chung là cháu Dương Ngọc Như Q, sinh ngày 15/8/2019 đang sống cùng với mẹ là bà Đặng Thị Kim T thì sẽ do mẹ trực tiếp nuôi và hàng tháng nhận hỗ trợ từ bố số tiền theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

  1. Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
  2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, tuyên xử:
    • - Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, bà Đặng Thị Kim T được ly hôn với ông Dương Ngọc H.
    • - Giao con chung tên Dương Ngọc Như Q, sinh ngày 15/8/2019 cho bà Đặng Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng.
    • - Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ ý kiến trình bày của các đương sự và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bà Đặng Thị Kim T và ông Dương Ngọc H có đơn đề nghị giải quyết vụ án vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bà T và ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Kim T và ông Dương Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận số 03/2019 ngày 08/01/2019. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.

[3] Tuy nhiên, sau khi kết hôn, vợ chồng mỗi người sống mỗi nơi nên phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Theo bà Đặng Thị Kim T, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống xa nhau, không tìm được tiếng nói chung. Nay bà Đặng Thị Kim T yêu cầu ly hôn, ông Dương Ngọc H đồng ý.

[4] Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa hai bên không thể hàn gắn, đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Kim T như ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp.

[5] Về con chung: Bà Đặng Thị Kim T trình bày, bà và ông Dương Ngọc H có 01 người con chung tên Dương Ngọc Như Q, sinh ngày 15/8/2019, hiện đang sống với bà tại khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Từ thời điểm ông H sang Nhật Bản sinh sống, làm việc thì bà Đặng Thị Kim T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến nay, ông Dương Ngọc H không về Việt Nam thăm con, không hỗ trợ bà T chăm sóc, nuôi dưỡng con. Quá trình sống với bà Đặng Thị Kim T, cháu Q còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ và ông H cũng đồng ý việc tiếp tục để cháu Q cho bà T chăm sóc. Do đó, giao cháu Dương Ngọc Như Q cho bà Đặng Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Tại đơn khởi kiện, bà Đặng Thị Kim T yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu ông Dương Ngọc H phải cấp dưỡng cho cháu Q 5.000.000 đồng/tháng. Quá trình hòa giải bà trình bày bà đủ khả năng nuôi cháu Q và không yêu cầu ông Dương Ngọc H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn khai không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[7] Về án phí: Bà Đặng Thị Kim T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ:

    - Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 82, 83, khoản 2 Điều 123; khoản 2 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Kim T.

    Về quan hệ hôn nhân:

    Bà Đặng Thị Kim T được ly hôn ông Dương Ngọc H.

    Về con chung:

    Bà Đặng Thị Kim T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Dương Ngọc Như Q, sinh ngày 15/8/2019. Ông Dương Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Dương Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Bà Đặng Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tiền số 0020586 ngày 09/10/2023. Bà Đặng Thị Kim T đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo:
    • - Nguyên đơn bà Đặng Thị Kim T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Bị đơn ông Dương Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh B. Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh B. Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, TỔ HCTP, TDS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Tố Linh Phạm Văn Trịnh

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2019, bà và ông Dương Ngọc H đã tự nguyện chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội. Trong thời gian chung sống, chúng tôi có 01 người con tên Dương Ngọc Như Q, sinh ngày 15/8/2019. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã với nhau. Nguyên nhân chủ yếu là ở xa nhau quá lâu, bất đồng quan điểm sống, sinh hoạt. Bà và ông Dương Ngọc H đã ly thân đã lâu, phần ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, tình trạng rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Dương Ngọc H. Về con chung: Vợ chồng ông bà có một con chung tên Dương Ngọc Như Q, sinh ngày 15/8/2019. Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con đến 18 tuổi. Đồng thời, yêu cầu ông Dương Ngọc H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền 5.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên trong quá trình hòa giải, bà T đã đề nghị Tòa án không giải quyết về việc yêu cầu ông Dương Ngọc H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền 5.000.000 đồng/tháng, chỉ yêu cầu Tòa án cho bà được tiếp tục nuôi con.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger