Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BÌNH LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 17/2024/DSST

Ngày 23-8-2024

V/v: “Tranh chấp quyền đòi

lại tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Dung
Ông Lê Đức Hiền
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hùng Phong - Kiểm sát viên.

Từ ngày 20 đến ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-DS ngày 26/02/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐST – DS ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệu T, sinh năm 1969 (Có mặt)
  • HKTT: Ấp 3, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
  • Nơi ở: Số nhà 22, quốc lộ 13, ấp 5, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1982 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, thị xã B, Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản lời khai và biên bản lấy lời khai tại Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn bà Trần Thị Diệu T trình bày:

Do bà T và ông Nguyễn Ngọc H có mối quan hệ quen biết nên vào ngày 01/4/2017, ông H có hỏi vay bà T số tiền 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng) để mua đất và thời gian vay đến 30/4/2017, anh H trả cho bà T. Tuy nhiên, vì mối quan hệ thân tình nên đến hạn trả nợ cho ông H khất nợ.

Ngày 17/3/2018, ông H vay thêm của bà T số tiền 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng), thời gian trả nợ mỗi tháng thanh toán 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) cho đến khi hết nợ.

Đến ngày 01/8/2018, ông H sửa nhà, trả tiền vật liệu xây dựng nên hỏi vay của bà T thêm số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng), thoả thuận thời hạn vay đến 01/9/2018 thanh toán số tiền 100.000.000đ, số tiền còn lại thanh toán hàng tháng từ ngày 01/10/2018, mỗi tháng 5.000.000đ cho đến khi hết nợ.

Cả ba lần vay thì giữa bà T và ông H đều làm giấy vay tiền.

Tổng số tiền ba lần ông H vay của bà T là 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng), mặc dù đã hết thời hạn vay, bà T đã cho ông H khất nợ rất nhiều lần nhưng khi đòi nợ ông H vẫn không trả. Cả ba lần vay bà T không yêu cầu ông H trả liền lãi.

Nay bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  1. Buộc ông Nguyễn Ngọc H có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Diệu T số tiền nợ gốc 325.000.000đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng).
  2. Buộc ông Nguyễn Ngọc H trả tiền lãi cho bà Trần Thị Diệu T:
    • Số tiền vay 90.000.000đ, tính từ ngày 30/4/2017, tạm tính đến ngày 21/02/2024 = 90.000.000₫ x 10%/năm x 82 tháng = 61.500.000₫
    • Số tiền vay 35.000.000đ, tính từ ngày 17/4/2018, tạm tính đến ngày 21/02/2024 = 35.000.000₫ x 10%/năm x 70 tháng = 20.041.666₫
    • Số tiền vay 200.000.000đ, tính từ ngày 01/9/2018, tạm tính đến ngày 21/02/2024 = 200.000.000₫ x 10%/năm x 65 tháng = 108.333.333₫

Tiền lãi của ba khoản vay trên từ ngày 22/02/2024 đến ngày 20/8/2024 là 16.159.001₫ (Mười sáu triệu một trăm năm mươi chín nghìn không trăm lẻ một đồng)

Bà Trần Thị Diệu T yêu cầu ông Nguyễn Ngọc H phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc là 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi là 206.034.000₫ (Hai trăm lẻ sáu triệu không trăm ba mươi bốn nghìn đồng), tổng cộng số tiền gốc và lãi là 531.034.000đ (Năm trăm ba mươi mốt triệu không trăm ba mươi bốn nghìn đồng)

Đây là giao dịch riêng giữa bà T và ông H, nên bà T chỉ yêu cầu 01 mình ông H có nghĩa vụ thanh toán tiền vay cho bà T.

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc H trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Vào ngày 01/4/2017, ông H có vay của bà T số tiền 90.000.000₫ (Chín mươi triệu đồng), hẹn đến ngày 30/4/2017, ông H sẽ trả số nợ trên cho bà T, nhưng tới hạn trả ông H không có khả năng trả nên bà T có yêu cầu ông H sang tên chiếc xe SH125 cho con bà T và yêu cầu ông H làm lại một giấy nợ là 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) vào ngày 17/3/2018, sau đó bà T nói còn nợ 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng), yêu cầu ông H làm một tờ giấy mua bán xe máy SUZUKI XIPO cho bà T, khi ông H sang tên chiếc xe cho bà T, ông H có hỏi giấy nợ đâu, bà T nói mất hết rồi, vì chung sống với nhau nên ông H tin tưởng.

Vào tháng 8/2018, ông H có mua cho bà T một chiếc xe ô tô để phục vụ việc đi lại trong gia đình, khi đó con rể bà T lấy xe đi tập lái cho bà T thì nói xe này bị hư nên bà T nói ông H lấy xe đó mặt dù đi chung nhưng bà T bắt tôi viết giấy nợ 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) với hình thức thanh toán hàng tháng. Trong thời điểm đó ông H với bà T có mua một thửa đất ở xã L, huyện L với giá 280.000.000₫ (Hai trăm tám mươi triệu đồng). Trong đó bà T đưa ông H 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), còn ông H bán 01 giây chuyền, một lắc và một nhẫn vàng để mua đất. Vào khoảng tháng 7/2020, bà T bán thửa đất trên với giá 750.000.000đ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng) khi ông H hỏi tiền bán đất thì bà T nói ở chung mà tính toán gì.

Vào khoảng tháng 12/2019, chị T bán chiếc xe ô tô của anh H, khi ông H hỏi thì bà T nói ông H và bà T hết nợ, khi ông H hỏi các giấy nợ đâu thì bà T nói giấy nợ để trong két sắt mất chìa khoá, nên đã bán cho phế liệu. C sống với nhau 7 năm kể từ năm 2017, ông H đi lái xe thuê, tiền lương ông H đều đưa cho bà T hết.

Vào khoảng năm 2021, bà T nói tôi đi vay 160.000.000₫ (Một trăm sáu mươi triệu đồng) để bà T mua xe, tiền lãi mỗi tháng 7.000.000đ/tháng, ông H phải đóng tiền lãi đến cuối năm 2022, bà T đã bán xe ô tô lấy tiền còn nói ông H thanh toán số nợ lại của số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng) ông H đã thanh toán được 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), còn 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Vào mùng 6 tết năm 2024, khi ông H và bà T cải nhau, bà T có lấy của ông H cộng dây chuyền vàng gần 1,4 lượng. Nay bà T yêu cầu ông H trả số tiền nợ gốc 325.000.000đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi 206.034.000₫ (Hai trăm lẻ sáu triệu không trăm ba mươi bốn nghìn đồng). Tổng số tiền gốc và lãi là 531.034.000đ (Năm trăm ba mươi mốt triệu không trăm ba mươi bốn nghìn đồng) thì ông Nguyễn Ngọc H không đồng ý, chỉ đồng ý trả số tiền gốc 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) mỗi tháng trả 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và không đồng ý trả tiền lãi theo yêu cầu.

Ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa:

Về tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung vụ án:

  • Tại phiên toà, nguyên đơn bà T rút yêu cầu tính lãi suất, chỉ yêu cầu trả số tiền gốc 325.000.000đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) và yêu cầu ông H trả một lần
  • Tại phiên toà, bị đơn ông H đồng ý trả số tiền gốc 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) và mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) cho đến khi hết số tiền gốc, không đồng ý trả lãi.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Diệu T, tuyên buộc ông Nguyễn Ngọc H trả cho bà T số tiền gốc 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng), về tiền lãi yêu cầu đình chỉ theo quy định.
  • Án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Trần Thị Diệu T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Ngọc H trả lại cho bà T số tiền đã vay 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) và lãi suất theo quy định. Bị đơn ông Nguyễn Ngọc H có hộ khẩu thường trú và cư trú tại tổ C, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

Tại Toà, bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đòi lại tiền cho vay. Hội đồng xét xử xét thấy tranh chấp hợp đồng vay tài sản hết thời hiệu khởi kiện theo quy định, nên thay đổi quan hệ pháp luật tranh chấp là quyền đòi lại tài sản theo Điều 166 Bộ luật dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn. Do vậy, đối với tranh chấp về quyền đòi tài sản thì không áp dụng thời hiệu, không phụ thuộc vào việc một bên hoặc các bên có hay không có yêu cầu áp dụng thời hiệu.

Tại Toà, bà T chỉ yêu cầu đòi lại tiền gốc, không yêu cầu tiền lãi suất là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về nội dung vụ án:

Bà T và ông Nguyễn Ngọc H có mối quan hệ quen biết: Vào ngày 01/4/2017, bà T cho ông H vay số tiền 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng) để mua đất và thời gian vay đến 30/4/2017; Ngày 17/3/2018, ông H vay thêm của bà T số tiền 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng), thời gian trả nợ mỗi tháng thanh toán 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) cho đến khi hết nợ. Đến ngày 01/8/2018, ông H sửa nhà, trả tiền vật liệu xây dựng nên hỏi vay của bà T thêm số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng), thoả thuận thời hạn vay đến 01/9/2018 thanh toán số tiền 100.000.000đ, số tiền còn lại thanh toán hàng tháng từ ngày 01/10/2018, mỗi tháng 5.000.000đ cho đến khi hết nợ.

Tổng số tiền ba lần ông H vay của bà T là 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng), mặc dù đã hết thời hạn vay, bà T đã cho ông H khất nợ rất nhiều lần nhưng khi đòi nợ ông H vẫn không trả. Cả ba lần vay bà T không yêu cầu ông H trả liền lãi suất.

Tại toà, bà T yêu cầu đòi lại tiền gốc cho vay 325.000.000đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) và rút yêu cầu tính lãi suất.

Ông H đồng ý trả tiền gốc 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) và mỗi tháng trả 5.000.000đ ( Năm triệu đồng) cho đến khi hết nợ.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của bị đơn:

[3.1] Bà T yêu cầu đòi lại tiền gốc cho vay 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi suất, chứng cứ kèm theo là 03 giấy vay tiền có chữ ký, chữ viết của ông H là chứng cứ trực tiếp để giải quyết vụ án

Ông H thừa nhận có vay ba khoản tiền của bà T, cụ thể: Số tiền 90.000.000₫ (Chín mươi triệu đồng) vào ngày 01/4/2017; số tiền 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) vào ngày 17/3/2018 và số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) vào 01/8/2018, ông H đã trả hết ba khoản nợ trên cho bà T nhưng ông H không cung cấp được các tài liệu chứng minh về việc ông đã trả cho bà T các khoản nợ trên cho bà T, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn....”. Như vậy, việc ông H vay tiền của bà T nhưng không trả đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định, mặc dù thời hiệu khởi kiện đã hết nhưng pháp luật quy định đòi lại tài sản là phù hợp, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Ngọc H thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền vay gốc 325.000.000đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng), là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

Bà Trần Thị Diệu T rút yêu cầu tính lãi, nên không xem xét và đình chỉ theo quy định.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu về tố tụng, nội dung vụ án là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của kiểm sát viên.

[6] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn ông Nguyễn Ngọc H phải chịu tiền án phí không có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho bà T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 217; khoản 1 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Diệu T đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc H về “Quyền đòi lại tài sản”.
  2. Buộc ông Nguyễn Ngọc H phải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Diệu T số tiền nợ gốc là 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng).
  3. Đình chỉ yêu cầu tính lãi suất của số tiền 325.000.000đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng) của bà Trần Thị Diệu T.
  4. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả.

  5. Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
  6. Nguyên đơn bà Trần Thị Diệu T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho bà Trần Thị Diệu T số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002073 ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bình Long. Bị đơn ông Nguyễn Ngọc H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá nghạch là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Ông Nguyễn Ngọc H liên hệ Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bình Long để thực hiện nghĩa vụ đóng tiền án phí theo quy định.

    Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014

  7. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Bình Long;
  • - Chi cục THADS thị xã Bình Long;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thành Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/DSST ngày 23/08/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước về tranh chấp quyền đòi lại tài sản

  • Số bản án: 17/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger