Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/DS-ST

Ngày: 25 – 4 – 2024

V/v Hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Phú Anh Lân
  • 2. Ông Phạm Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Thuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 25/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 90/2023/TLST-DS ngày 02/6/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QÐST-DS ngày 08/3/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QÐST-DS, ngày 29/3/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Địa chỉ: T, số A T, Phường L, Quận H, TP .

Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trình Kiên T1 – Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh N (Quyết định số 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021 của Chủ tịch Hộng đồng quản trị). Ông T1 ủy quyền lại cho: Ông Lê Đức Quốc S – Phó giám đốc Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh N (Quyết định số 91/QĐ-BIDV.NT ngày 01/4/2022) và ông Trần Huy H – Chuyên viên phụ trách xử lý nợ, Ngân hàng Đ chi nhánh N tham gia tố tụng (Quyết định số 101/QĐ-BIDV.NT ngày 01/4/2023). Địa chỉ: A đường B tháng H, phường P, Tp . T, tỉnh Ninh Thuận. (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Kiều H1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (Vắng mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trượng Văn C, sinh năm 1960 và bà Đàng Thị Kim H2, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/5/2023, cũng như tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ ông Trần Huy H trình bày:

Ông Kiều H1 có quan hệ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N theo Hợp đồng tín dụng sau:

1. Hợp đồng tín dụng số E99101/2020/HĐ, ngày 26/10/2020, cụ thể như sau: Số tiền vay: 260,000,000 đồng; Lãi suất vay hiện nay: 11,3%/năm; Thời hạn vay: 60 tháng; Mục đích vay: Tiêu dùng; Kỳ hạn trả nợ: hàng tháng; Số tiền trả nợ/hàng tháng: 5,720,000 đồng; Lãi suất vay ban đầu: 10,0%/năm.

Tính đến hết ngày 25/4/2024 toàn bộ dư nợ vay theo Hợp đồng tín dụng nêu trên như sau:

STT Dư nợ gốc Dư nợ lãi Lãi phạt Tổng cộng
1 254,638,097 95,534,639 11,638,094 361,810,830

2. Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 2555803/2020/HĐTD, ngày 31/07/2020, cụ thể như sau: Số tiền vay: 20,000,000 đồng; Thời hạn vay: 60 tháng; Mục đích vay: Tiêu dùng.

Tính đến hết ngày 25/4/2024 toàn bộ dư nợ vay theo Hợp đồng tín dụng nêu trên như sau:

STT Dư nợ gốc Dư nợ lãi Lãi phạt Tổng cộng
1 19,788,759 8,236,257 2,828,957 30,853,973

Như vậy, tính đến hết ngày 25/4/2024, toàn bộ dư nợ vay của Ông Kiều H1 theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên đã chuyển nợ quá hạn, trong đó:

STT Dư nợ gốc Dư nợ lãi Lãi phạt Tổng cộng
1 254,638,097 95,534,639 11,638,094 361,810,830
2 19,788,759 8,236,257 2,828,957 30,853,973
TC 274,426,856 103,770,896 14,467,051 392,664,803

* Để bảo đảm cho toàn bộ số tiền vay của Ông Kiều HoàngHộ ông Trượng Văn C1 ký kết với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N theo Hợp đồng thế chấp tài sản sau:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba : E99101/2012/HĐ, ngày 04/10/2012giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Trượng Văn C và bà Đàng Thị Kim H2.

Tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất diện tích 5127m2 thuộc thửa đất số 409, 412 tờ bản đồ số 10 tại xã P, N, Ninh Thuận được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 835972 ngày 03/11/1998 cho hộ ông Trượng Văn C.

Đến nay, toàn bộ nợ vay của Ông Kiều H1 theo Hợp đồng tín dụng nêu trên đã quá hạn. Do vậy, Ông Kiều H1 đã vi phạm Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N về việc trả nợ vay.

Nay, bằng văn bản này Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N khởi kiện Ông Kiều H1 tòa án để đòi nợ vay. Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N yêu cầu Tòa án buộc: Ông Kiều H1 phải trả ngay toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N với tổng số tiền tính đến hết ngày 25/4/2024. Cụ thể như sau:

1. Đối với Hợp đồng tín dụng số E99101/2020/HĐ, ngày 26/10/2020:

STT Dư nợ gốc Dư nợ lãi Lãi phạt Tổng cộng
1 254,638,097 95,534,639 11,638,094 361,810,830

2. Đối với Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 2555803/2020/HĐTD, ngày 31/07/2020

STT Dư nợ gốc Dư nợ lãi Lãi phạt Tổng cộng
1 19,788,759 8,236,257 2,828,957 30,853,973

Ông Kiều H3 tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số nợ trên tính từ ngày 26/4/2024 và lãi phạt chậm thi hành án với lãi suất theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết cho đến khi trả hết nợ vay.

3. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba : E99101/2012/HĐ, ngày 04/10/2012giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Trượng Văn C và bà Đàng Thị Kim H2 để đảm bảo thi hành án.

Đối với bị đơn là ông Kiều H1: Sau khi thụ lý vụ án, để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của bị đơn, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định pháp luật. Tuy nhiên ông H1 không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến trình bày về nội dụng vụ án.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trượng Văn C và bà Đàng Thị Kim H2: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên ông C và bà H2 không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến trình bày về nội dụng vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ đúng quy định của pháp luật và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS là có căn cứ.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Kiều H1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử, ngày 25/4/2024 đối với.

1. Hợp đồng tín dụng số E99101/2020/HĐ, ngày 26/10/2020 là: 361,810,830 đồng (trong đó: 254,638,097 đồng; lãi: 95,534,639 đồng; lãi phạt: 11,638,094 đồng).

2. Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 2555803/2020/HĐTD, ngày 31/07/2020 là: 30,853,973 đồng (trong đó: 19,788,759 đồng; lãi: 8,236,257 đồng; lãi phạt: 2,828,957 đồng).

Tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quá hạn quy định tại các Hợp đồng tín dụng nêu trên.

Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số E99101/2012/HĐ, ngày 04/10/2012 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Trượng Văn C và bà Đàng Thị Kim H2 để đảm bảo việc thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Kiều H1 có ký hợp đồng tín dụng số E99101/2020/HĐ, ngày 26/10/2020 số tiền vay 260.000.000 đồng; Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 2555803/2020/HĐTD, ngày 31/07/2020 số tiền 20.000.000 đồng. Có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp số E99101/2012/HĐ, ngày 04/10/2012 Vì vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Đối với bị đơn là ông Kiều H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trượng Văn C và bà Đàng Thị Kim H2. Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông H1, ông C và bà H2 vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H1, ông C và bà H2 theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn – Ngân hàng TMCP Đ đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện có nội dung: Buộc ông Kiều H1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử, ngày 25/4/2024 là 392,664,803 đồng. Trong đó:

- Hợp đồng tín dụng số E99101/2020/HĐ, ngày 26/10/2020 là: 361,810,830 đồng (trong đó: 254,638,097 đồng; lãi: 95,534,639 đồng; lãi phạt: 11,638,094 đồng).

- Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 2555803/2020/HĐTD, ngày 31/07/2020 là: 30,853,973 đồng (trong đó: 19,788,759 đồng; lãi: 8,236,257 đồng; lãi phạt: 2,828,957 đồng).

Tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quá hạn quy định tại các Hợp đồng tín dụng nói trên.

Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số E99101/2012/HĐ, ngày 04/10/2012 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Trượng Văn C và bà Đàng Thị Kim H2 để đảm bảo việc thi hành án.

[2.1] Xét hợp đồng tín dụng số E99101/2020/HĐ, ngày 26/10/2020 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Kiều H1. Nội dung thể hiện ông H1 có vay Ngân hàng TMCP Đ số tiền vay 260.000.000 đồng. Đây là giao dịch có chủ thể tham gia có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Nên hợp đồng được ký kết giữa ông Kiều H1 với Ngân hàng TMCP Đ, ngày 26/10/2020 có hiệu lực pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông Kiều H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo khoản 3 Điều 8; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 9 của Điều khoản và điều kiện (đính kèm hợp đồng tín dụng), ngày 26/10/2020. Ngày 06/12/2020 Ngân hàng TMCP Đ đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn Điều 4, 5 và 6 của Điều khoản và điều kiện (đính kèm hợp đồng tín dụng), ngày 26/10/2020. Tính đến nay ông Kiều H1 mới chỉ thanh toán được 5.361.903 đồng tiền gốc.

[2.2] Xét hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 2555803/2020/HĐTD, ngày 31/7/2020. Nội dung thể hiện ông H1 có vay Ngân hàng TMCP Đ số tiền vay 20.000.000 đồng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng. Đây là giao dịch có chủ thể tham gia có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Nên hợp đồng được ký kết giữa ông Kiều H1 với Ngân hàng TMCP Đ, ngày 31/7/2020 có hiệu lực pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông Kiều H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 8 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngày 31/7/2020. Ngày 06/9/2021 Ngân hàng TMCP Đ đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn Điều 10 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngày 31/7/2020. Tính đến nay ông Kiều H1 mới chỉ thanh toán được 211.241 đồng tiền gốc.

Như vậy việc ông Kiều H1 có ký hợp đồng tín dụng số E99101/2020/HĐ, ngày 26/10/2020 và Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 2555803/2020/HĐTD, ngày 31/7/2020 với Ngân hàng TMCP Đ. Tính đến thời điểm ngày 25/4/2024 số tiền còn nợ tổng cộng số tiền là 392.664.803 đồng có thật. Nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Đ đề nghị bị đơn là ông Kiều H1 phải trả số tiền còn nợ nói trên và tiếp tục phải chịu lãi suất theo hợp đồng đã ký là có căn cứ, có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Xét Hợp đồng thế quyền sử dụng đất số E99101/2012, ngày 04/10/2012 giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Trượng Văn C và bà Đàng Thị Kim H2 được Văn Phòng C3 chứng thực, cũng như Biên bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số E99101/2012/HĐBĐ. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 5127m2 thuộc thửa đất số 409, 412 tờ bản đồ số 10 tại xã P, N, Ninh Thuận được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 835972 ngày 03/11/1998 cho hộ ông Trượng Văn C. Vì vậy ông C,H2 được quyền thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng theo quy định tại Điều 167 và Điều 188 Luật đất đai 2013, đất không có tranh chấp, không bị kê biên đảm bảo thi hành án và trên thực tế để đảm bảo vốn vay cho ông Kiều H1, ông C,H2 đã dùng quyền sử dụng đất của mình thế chấp cho ngân hàng. Việc thế chấp quyền sử dụng đất được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT/BTP-BTNMT, ngày 16/11/2011 về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất. Nên hợp đồng thế chấp và Biên bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số E99101/2012/HĐBĐ giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Trượng Văn C và bà Đàng Thị Kim H2 có hiệu lực pháp luật.

Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về chi phí xem xét thẩm định: Chi phí xem xét thẩm định số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) do Ngân hàng TMCP Đ nộp tạm ứng. Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu phí xem xét thẩm định. Buộc ông Kiều H1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

[4] Về án Phí: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu án phí DSST theo khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Cụ thể: 392.664.803 đồng x 5% = 19.633.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, 317, 318, 319, 323, 325, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT/BTP-BTNMT, ngày 16/11/2011 về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ. Buộc ông Kiều H1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử, ngày 25/4/2024 là 392.664.803 đồng (Ba trăm chín mươi hai triệu, sáu trăm sáu mươi bốn ngàn, tám trăm linh ba đồng). Trong đó:

  • - Hợp đồng tín dụng số E99101/2020/HĐ, ngày 26/10/2020 số tiền nợ là: 361.810.830 đồng (trong đó: 254.638.097 đồng; lãi: 95.534.639 đồng; lãi phạt: 11.638.094 đồng).
  • - Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 2555803/2020/HĐTD, ngày 31/07/2020 số tiền nợ là: 30.853.973 đồng (trong đó: 19.788.759 đồng; lãi: 8.236.257 đồng; lãi phạt: 2.828.957 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (26/4/2024) ông H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

2/. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số E99101/2012, ngày 04/10/2012 giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Trượng Văn C và bà Đàng Thị Kim H2 đối với tài sản gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 5127m2 thuộc thửa đất số 409, 412 tờ bản đồ số 10 tại xã P, N, Ninh Thuận được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 835972 ngày 03/11/1998 cho hộ ông Trượng Văn C để đảm bảo cho việc thi hành án.

3./ Về chi phí xem xét thẩm định: Buộc ông Kiều H1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Nếu bên phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4/. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Kiều H1 phải chịu 19.633.000 đồng (Mười chín triệu, sáu trăm ba mươi ba ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP Đ được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.022.000 đồng theo biên lai thu số 0000914, ngày 01/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5/. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/4/2024); Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS Ninh Phước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận về tranh chấp hợp đồng vay tài sản; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 17/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger