|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2023/DS-ST
Ngày: 21-8-2023
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Yêu cầu hủy giấy CNQSD đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đăng Ninh; Ông Nguyễn Tất Thể
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Trương Thị Minh Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 37/2022/TLST- DS ngày 20/10/2022 về "Tranh chấp quyền sử dụng đất” và “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-DS ngày 08/8/2023 giữa:
Nguyên đơn: Ông Dương Văn P, có mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị H, có mặt
Địa chỉ: Công ty L2; Số 02 đường V, PT, TP., tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị đơn: Ông Lê Xuân Đ, SN 1978 và bà Lê Thị T; SN 1985; Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt
Bà Lê Thị T ủy quyền cho ông Lê Xuân Đ tham gia tố tụng
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện N
- Ủy ban nhân dân xã C.
- Ông Dương Văn T3; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hà Thị Phan T1 – chuyên viên phòng T13 (Văn bản ủy quyền ngày 15/8/2023); có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Công T2 – Phó chủ tịch UBND xã C, có mặt
2
- Ông Dương Minh A; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.
- Ông Dương Văn T4; Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.
- Ông Dương Văn T5; Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.
- Bà Lê Thị X; Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt
- Bà Lê Thị N; Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, vắng mặt
- Ông Lê Văn Đ1; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
- Ông Dương Văn T6; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, vắng mặt.
- Bà Dương Thị X1; Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, vắng mặt
Ông Dương Văn T3, Dương Minh A, Dương Văn T4, Dương Văn T5, Dương Văn T6, Lê Văn Đ1, Bà Lê Thị X, Lê Thị N ủy quyền cho ông Dương Văn P tham gia tố tụng.
- Ông Nguyễn Văn T7; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, (xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bố mẹ ông là ông Dương N1, bà Phan Thị X2 sinh được 8 người con gồm: ông Dương Văn P, ông Dương Văn T6, ông Dương Văn T3, ông Dương Minh A, ông Dương Văn T4, ông Dương Văn T5, bà Dương Thị L (đã mất), bà Dương Thị X1.
Trong quá trình sinh sống, bố mẹ ông được cha mẹ để lại cho một thửa đất để ở tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Theo hồ sơ 299 là thửa đất số 119, tờ bản đồ số 03, diện tích 800m², sổ mục kê mang tên “Ông T4” (kê khai theo phong tục tên con trai đầu), mục đích sử dụng đất: đất ký hiệu chữ T (thổ cư) tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Cạnh thửa đất số 119, tờ bản đồ số 03 của bố mẹ ông là thửa đất số 120, tờ bản đồ số 03 tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh là vùng lạch nước nên trong quá trình sử dụng đất, bố mẹ ông đã khai hoang, sử dụng thêm một phần diện tích đất tại thửa đất này. Ngày 20/12/1996, bố mẹ tôi được UBND huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cấp GCNQSD đất ký hiệu số H710307, số vào sổ cấp: 141/QSDĐ, thửa đất số 119+120, tờ bản đồ số 03, diện tích 1200m² (trong đó 200m² đất ở, 1000m² đất vườn) tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh mang tên ông Dương N1.
Năm 2000, bố mẹ ông có bán cho ông Nguyễn Văn T7 một phần diện tích đất, tặng cho con trai đầu ông Dương Văn T4 một phần diện tích đất, tặng cho
3
con trai thứ ông Dương Minh A một phần diện tích đất và tặng cho gia đình tôi một phần diện tích đất. Năm 2002, bố ông là ông Dương N1 mất, năm 2004, mẹ bà Phan Thị X2 mất, toàn bộ diện tích đất trên được anh em trong gia đình tiếp tục quản lý, sử dụng ổn định, đến nay chưa làm thủ tục cấp đổi GCNQSD đất nhưng các đồng thừa kế đều thống nhất về việc sử dụng đất này, không có tranh chấp với nhau (hiện đều đã có văn bản ủy quyền cho ông P).
Năm 2003, thực hiện đo đạc Bản đồ địa chính 2004, toàn bộ diện tích đất tại thửa đất 119+120, tờ bản đồ số 03 đã được cấp GCNQSD đất mang tên ông Dương N1 trên được đo đạc lại thành thửa đất số 178, tờ bản đồ số 25, diện tích 1795.8m² tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, mục đích đất chữ T, người đại diện kê khai là ông Dương Xuân A1 (Dương Minh A, em trai ông). Tại Biên bản xác định ranh giới, mốc giới kiêm hồ sơ kỹ thuật thửa đất ngày 10/09/2003 kèm theo Bản đồ địa chính 2004 thì thửa đất số 178, tờ bản đồ số 25 của gia đình ông có ranh giới, tứ cận: Phía Bắc giáp đất ông Dương Văn T8, đất ông Đinh Nho  với chiều dài 55,59m tại các mốc tọa độ 1, 2, 3, 4; phía Tây giáp đất ông Lê Thành d 30,43m tại các mốc tọa độ 1, 9; phía Nam giáp đường dài 57,07m tại các mốc tọa độ 5, 6, 7, 8, 9; phía Đông giáp đường dài 32,75m với các mốc tọa độ 4, 5. Ông Dương Văn T8, ông Đinh Nho Â, ông Lê T9 là đại diện các chủ sử dụng đất liền kề cũng đã xác nhận mốc giới, ranh giới sử dụng đất và ký xác nhận mốc giới, ranh giới giáp ranh liền kề thửa đất tại Biên bản xác định ranh giới, mốc giới kiêm hồ sơ kỹ thuật thửa đất ngày 10/09/2003 kèm theo Bản đồ địa chính 2004 đầy đủ (có tài liệu kèm theo).
Phần diện tích đất bố mẹ ông tặng cho gia đình ông diện tích đất là 330m² nằm ở phía Tây thửa đất số 178, tờ bản đồ số 25 (Bản đồ địa chính 2004) tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh của bố mẹ ông. Theo Biên bản xác định ranh giới, mốc giới kiêm hồ sơ kỹ thuật thửa đất ngày 10/09/2003 kèm theo Bản đồ địa chính 2004 thì diện tích đất 330m² bố mẹ ông tặng cho ông có vị trí, mốc giới, ranh giới ở các điểm tọa độ gồm 1, 2, 8, 9 với các ranh giới: Phía Bắc giáp đất ông Đinh Nho  dài 7,3m kéo dài từ mốc tọa độ 1 đến mốc tọa độ 2; phía Tây giáp đất ông Lê Thành d 30,43m kéo dài từ mốc tọa độ 1 đến mốc tọa độ 9; phía Nam giáp đường dài 10,44 mét kéo dài từ mốc tọa độ 8 đến mốc tọa độ 9; phía Đông giáp đất gia đình ông dài khoảng 31 mét kéo dài từ mốc tọa độ 2 đến mốc tọa độ 8.
Gia đình sử dụng diện tích đất 330m² được bố mẹ tặng cho này ổn định từ trước đến nay. Trong quá trình sử dụng đất, năm 2012, gia đình ông cũng đã xây dựng tường rào giáp với gia đình ông Lê T9, việc xây dựng này không có bất kỳ ai phản đối, gia đình ông Lê T9, Lê Xuân Đ cũng không có bất kỳ ý kiến gì. Tuy nhiên, đến đầu năm 2022, trong khi gia đình ông đang sử dụng thửa đất được bố mẹ tặng cho này ổn định từ trước đến nay, có ranh giới, mốc giới cụ thể thì bất ngờ ông Lê Xuân Đ (con trai ông Lê T9) có hành vi cản trở việc sử dụng đất của
4
gia đình ông và cho rằng gia đình tôi chiếm đoạt diện tích đất này của gia đình ông Lê Xuân Đ nên làm đơn tố cáo đến UBND xã C dẫn đến tranh chấp.
Ngày 10/12/2021, ngày 10/03/2022, UBND xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai tại cơ sở đối với tranh chấp nêu trên giữa gia đình ông P với gia đình ông Lê Xuân Đ. Trong quá trình hòa giải tại UBND xã C thì ông bất ngờ được biết UBND huyện N khi làm thủ tục cấp đổi GCNQSD đất cho gia đình ông Lê Xuân Đ ở thửa đất bên cạnh đã cấp cả phần diện tích đất 330m² của gia đình tôi vào GCNQSD đất ký hiệu DB 417259 ngày 07/07/2021, thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28 tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh mang tên ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T cho gia đình ông Lê Xuân Đ (người thừa kế của ông Lê T9). Tuy nhiên, tại các buổi hòa giải này, các bên không thống nhất được với nhau về nội dung tranh chấp và phương án giải quyết nên việc hòa giải không thành.
Căn cứ vào nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất, rõ ràng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 330m² gia đình ông được bố mẹ tặng cho tại thửa đất số 178, tờ bản đồ số 25 (Bản đồ địa chính 2004) tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh đã được cấp GCNQSD đất ký hiệu H 710307 ngày 20/12/1996 mang tên bố ông là ông Dương N1 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông. Gia đình ông sử dụng diện tích đất này ổn định, quá trình sử dụng đất giữa gia đình ông và gia đình ông Lê T9 cũng đã thống nhất ranh giới, ký giáp ranh, mốc giới thửa đất với nhau đầy đủ, trên đất vẫn còn có các tài sản của gia đình ông sử dụng từ trước đến nay. Gia đình ông không có bất kỳ giao dịch mua bán, chuyển nhượng nào với ông Lê Xuân Đ, cũng chưa bị bất kỳ cơ quan nhà nước nào điều chỉnh, thu hồi diện tích đất đã được cấp GCNQSD đất này. Do vậy, việc UBND huyện N cấp đổi GCNQSD đất cho gia đình ông Lê Xuân Đ đã cấp cả phần diện tích đất 330m² của gia đình ông vào GCNQSD đất ký hiệu DB 417259 ngày 07/07/2021, thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28 tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh mang tên ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T là trái quy định pháp luật, chồng lấn điện tích đất đã được cấp GCNQSD đất ký hiệu số H 710307 ngày 20/12/1996 mang tên bố tôi ông Dương N1 của gia đình ông, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của gia đình ông. Sau khi được cấp GCNQSD đất ký hiệu DB 417259 ngày 07/07/2021 thì ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T lại cho rằng gia đình tôi chiếm đoạt đất của gia đình ông Lê Xuân Đ và tranh chấp với gia đình ông đối với diện tích đất này là hoàn toàn không có căn cứ. Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án:
- - Tuyên hủy GCNQSD đất ký hiệu DB 417259 do UBND huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 07/07/2021, thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28 tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh mang tên ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T.
- - Buộc ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 330m² tại thửa đất 119 + 120, tờ bản đồ số 03, bản
5
đồ 299, (theo Bản đồ địa chính 2004 là thửa đất số 178, tờ bản đồ số 25) tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh của gia đình ông.
Tại phiên tòa bị đơn ông Lê Xuân Đ trình bày:
Cha mẹ ông là ông Lê T9 và bà Trần Thị T10 mua của ông Phan D và bà Nguyễn Thị T11 vào năm 1983. Ngày 20/12/1996 ông Lê T9 được UBND huyện cấp Giấy CNQSD đất số H710306 gồm thửa đất số 121+120, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.200m², trong đó 200m² đất OTN, 1.000m² đất CLN, số vào số cấp giấy 143. Theo đo đạc bản đồ địa chính năm 2004 thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ số 25, diện tích 1.446,3m², tên chủ sử dụng đất là ông Lê T9. Theo đo đạc bản đồ năm 2014 thuộc thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, diện tích 1.778,5m², tên chủ sử dụng đất là Lê Xuân Đ. Ngày 7/7/2021 được UBND huyện cấp đổi Giấy CNQSD đất số DB417259 thuộc thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, diện tích 1.778,5m², trong đó ONT 800m², CLN 978,5m² cho ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị T. Quá trình cấp giấy CNQSD đất thì xã và thôn đã niêm yết công khai. Tranh chấp giữa gia đình ông và ông P năm 2014 đã giải quyết không liên quan đến việc cấp đất. Ông P làm hàng rào ông đã báo chính quyền và bắt ông P tháo dỡ nhưng ông P không thực hiện và trồng cây trên phần đất đó. Ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, UBND huyện N trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
- - Thửa đất liên quan đến nội dung khởi kiện được cấp cho ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị T12: Nguồn gốc thửa đất được HTX giao cho ông Phan D và bà Nguyễn Thị T11 vào năm 1979, đến khoảng năm 1983 thửa đất này được bán cho ông Lê T12 và bà Trần Thị T10 (cha mẹ đẻ của ông Lê Xuân Đ). Theo bản đồ 299 và sổ mục kê xác lập năm 1986 thì thửa 121, tờ bản đồ số 03, diện tích 840m², tên chủ sử dụng đất là ông T12, loại đất T. Ngày 20/12/1994 ông Lê T12 được UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 710306 gồm thửa đã số 121+120, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.200m², trong đó 200m² đất OTN, 1.000m² đất CLN, số vào số cấp giấy 143. Theo đo đạc bản đồ địa chính năm 2004 thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ số 25, diện tích 1.446,3m², tên chủ sử dụng đất là ông Lê T12. Theo đo đạc bản đồ năm 2014 thuộc thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, diện tích 1.778,5m², tên chủ sử dụng đất là Lê Xuân Đinh N2 7/7/2021 được UBND huyện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 417259 thuộc thừa đất số 267, tờ bản đồ số 28, diện tích 1.778,5m², trong đó ONT 800m², CLN 978,5m² cho ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị T12.
- - Hiện trạng Thửa đất ông Lê Xuân Đ đang sử dụng có diện tích 1.446m² (tăng 246,0m² so với diện tích đã được cấp giấy CNQSD đất), đã xây dựng 03 ngôi nhà ở kiên cố, gồm của bà Lê Thị L1 (em gái ông Lê Xuân Đ); bà Nguyễn Thị B (mẹ kể ông Lê Xuân Đ); nhà thờ của gia đình và đã làm thủ tục văn bản
6
phân chia tài sản thừa kế ngày 28/11/2018 nhưng chưa làm thủ tục tách thửa, chuyển nhượng và phần đất chưa sử dụng là: 332,5m².
- - Hiện trạng sử dụng đất thửa đất ông Dương Văn P đang khởi kiện có một phần thửa đất khoảng 332,5 m² (thuộc một phần thửa đất 120, TBĐ số 03 bản đồ 299, nay thuộc một phần thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, diện tích 1.778,5m²) đang để trống, phía Tây có xây hàng rào bằng gạch táp lô, không da trát, dài 33m, cao 1,2m; phía Nam cũng xây hàng rào bằng gạch táp lô, không da trát, dài 1,5m. cao 1,2m do ông Dương Văn P xây năm 2014; có 02 bụi chuối, một số cây cỏ lau (do ông P trồng), cỏ hoang tự mọc, chưa xây dựng nhà ở.
- - Về nguồn gốc và quá trình sử dụng, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Dương Văn P:
Thửa đất liên quan đến nội dung khởi kiện của ông Dương Văn P được cấp cho ông Dương N1: Nguồn gốc thửa đất được HTX giao cho ông Dương N1 và bà Phan Thị X2 (cha mẹ đẻ của ông Dương Văn P) vào năm 1979. Theo bản đồ 299 và số mục kê xác lập năm 1986 thuộc thửa đất số 119, diện tích 800 m², loại đất T, tên chủ sử dụng đất là ông T4 (kê khai theo phong tục lấy tên con trai đầu). Ngày 20/12/1996 được UBND huyện cấp Giấy CNQSD đất số H 710307 cho ông Dương N1 thuộc thửa đất số 120+119, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.200m², trong đó ONT 200m² và CLN 1.000m², số vào sổ cấp giấy 141. Theo đo đạc bản đồ địa chính năm 2004 thuộc thửa đất số 178, tờ bản đồ số 25 diện tích 1.795,8m², tên chủ sử dụng đất là Dương Xuân A1 (em trai ông Dương Văn P). - Theo đo đạc bản đồ năm 2014 tên chủ sử dụng đất là Dương Xuân A1 được tách thành 02 thừa gồm: Thửa đất số 259, tờ bản đồ số 28 diện tích 1.035,1 m2 và thửa đất số 258, tờ bản đồ số 28 diện tích 471,7 m² (thửa đất này đã được ông Dương N1 bán cho ông Nguyễn Văn T7 vào khoảng năm 2001-2002, đã xây dựng nhà ở kiên cố nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng, tách thửa). Tổng diện tích 02 thừa đất là 1.506,8m².
Hiện trạng sử dụng đất: Thửa đất hiện trạng sử dụng có diện tích 1.505,1 m² (tăng 306,8 m² so với diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), đã xây dựng 03 nhà ở kiên cố của ông Nguyễn Văn T7 (sử dụng đất ông P bán nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), ông Dương Xuân A1, ông Dương Văn B1 (cháu ông Dương Văn P). Chưa thực hiện thủ tục phân chia tài sản thừa kế, tách thửa, chuyển nhượng
Qua trình kiểm tra, soát xét lại hồ sơ cấp đổi GCNQSD đất cho ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị Thanh U huyện nhận thấy: Việc UBND xã C họp xét xác định nguyên nhân biến động tăng diện tích thửa đất của ông Lê Xuân Đ trong hồ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 417259 tăng 578,5m2 so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu là “do khi kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu hộ chưa kê khai hết diện tích, hiện trạng sử dụng ranh giới ổn định, không tranh chấp lấn chiếm” là không đúng với hồ sơ
7
địa chính, hiện trạng thực tế; Theo Văn bản phân chia tài sản thừa kế lập ngày 28/11/2018 được UBND xã C chứng thực phản ánh ông Lê T12 (bố ông Lê Xuân Đ) chết ngày 12/9/2007 nhưng trong phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, tại thôn N, xã C ngày 15/3/2015 tên chủ sử dụng ông Lê T12 và có chữ ký ông T12 là không đúng. Như vậy, việc UBND xã C căn cứ vào kết quả đo đạc để chứng thực văn bản phân chia tài sản thừa kế và đề nghị cấp giấy CNQSD đất cho ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị T là có sự sai sót.
- - Đối chiếu Bản đồ và sổ mục kê 299 và kết quả làm việc với các bên liên quan xác định thửa đất số 120, tờ bản đồ số 03, diện tích 800m2 tên chủ sử dụng đất là UBND xã, loại đất Trồng cây. Vị trí thửa đất này nằm giữa thửa đất số 119 và 121, cả ông Lê T12 và Dương N1 đều sử dụng trồng một số cây, đến năm 2014 ông Dương văn P1 có xây dựng tường rào gạch táp lô. Tuy nhiên khi cấp GCNQSD đất lần đầu UBND huyện đều công nhận cho ông Lê T12 và ông Dương Xuân A1 chủ sử dụng thửa đất số 120, tờ bản đồ số 03 là không đúng về nguồn gốc đất đai. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc đo đạc bản đồ địa chính năm 2004, 2014 và cấp đổi GCNQSD đất cho ông Lê Xuân Đ sai về vị trí, diện tích và nguồn gốc đất đai. Căn cứ vào hiện trạng sử dụng thì việc đo đạc bản đồ giữa 2 thời điểm năm 2004 và năm 2014 đơn vị tư vấn xác định thửa đất ông Lê T12 và ông Dương Xuân A1 không thống nhất về diện tích, vị trí ranh giới liền kề của thửa đất, chủ sử dụng đất. Lý giải nguyên nhân biến động tăng diện tích thửa đất của ông Lê Xuân Đ trong hồ cấp đổi GCNQSD đất số DB417259 tăng 578,5m2 so với GCNQSD đất cấp lần đầu “do khi kê khai cấp GCNQSD đất lần đầu hộ chưa kê khai hết diện tích, hiện trạng sử dụng ranh giới ổn định, không tranh chấp lấn chiếm” là không đúng với hồ sơ địa chính, hiện trạng thực tế.
Căn cứ điểm d khoản 2 điều 106 Luật đất đai năm 2013 (sửa đổi năm 2018), điểm c, khoản 26 Điều 1 Nghị định 148/2020/NĐ-CP đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh tuyên hủy GCNQSD đất số DB417259 do UBND huyện cấp ngày 07/7/2021 cho ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị T12 thuộc thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, bản đồ 2014 diện tích 1.778,5m².
- - Đưa vào quản lý, cập nhật thông tin thửa đất số 120, tờ bản đồ số 3, bản đồ 299 diện tích 332,5m2, tên chủ sử dụng đất là UBND xã vào số mục kê và bản đồ địa chính hiện hành theo quy định tại Điều 5 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ và điểm đ khoản 1 điều 17 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T14 quy định về bản đồ địa chính.
Đại diện UBND xã C quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nhất trí như ý kiến trình bày của UBND huyện N.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh:
Về tố tụng và thẩm quyền: Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ theo đúng quy định, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý những
8
người tham gia tố tụng, xác định đúng quan hệ pháp luật đang tranh chấp, thông báo thụ lý, thông báo về việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải, thông báo ngày mở phiên tòa cho đương sự theo đúng quy định của BLTTDS năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử ap dụng Điều 26, Điều 34, Điều 37, 38, 147, 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, 170 Luật đất đai 2013; Điều 158, 161, 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- - Hủy GCNQSD đất số DB417259 do UBND huyện cấp ngày 07/7/2021 cho ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị T thuộc thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, bản đồ 2014 diện tích 1.778,5m²
- - Trả lại diện tích đất 332,5 m² tại thửa đất 119 + 120, tờ bản đồ số 03, bản đồ 299, (theo Bản đồ địa chính 2004 là thửa đất số 178, tờ bản đồ số 25) tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cho ông Dương Văn P.
- - Về án phí và chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định định giá tài sản theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:
Đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy CNQSD đất nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng họ đã ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng; UBND huyện N có đơn xin xét xử vắng mặt; những người này đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại các Điều 227; Điều 228; Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung
Nguyên đơn yêu cầu hủy GCNQSD đất ký hiệu DB 417259 do UBND huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 07/07/2021, thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28 tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh mang tên ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T. Buộc ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 332,5m² tại thửa đất 119 + 120, tờ bản đồ số 03, bản đồ 299, (theo Bản đồ địa chính 2004 là thửa đất số 178, tờ bản đồ số 25) tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh của gia đình nguyên đơn.
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng, việc cấp giấy CNQSD cho ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị T.
9
Theo lời khai của bị đơn ông Lê Xuân Đ và tài liệu cung cấp của chính quyền địa phương thì thửa đất được HTX giao cho ông Phan D và bà Nguyễn Thị T11 vào năm 1979, đến khoảng năm 1983 thửa đất này được bán cho ông Lê T12 và bà Trần Thị T10 (cha mẹ đẻ của ông Lê Xuân Đ). Theo bản đồ 299 và sổ mục kê xác lập năm 1986 thì thửa 121, tờ bản đồ số 03, diện tích 840m², tên chủ sử dụng đất là ông T12, loại đất T. Ngày 20/12/1996 ông Lê T12 được UBND huyện cấp Giấy CNQSD đất số H710306 gồm thửa đất số 121+120, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.200m², trong đó 200m² đất OTN, 1.000m² đất CLN, số vào số cấp giấy 143. Theo đo đạc bản đồ địa chính năm 2004 thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ số 25, diện tích 1.446,3m², tên chủ sử dụng đất là ông Lê T12. Theo đo đạc bản đồ năm 2014 thuộc thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, diện tích 1.778,5m², tên chủ sử dụng đất là Lê Xuân Đ. Ngày 7/7/2021 được UBND huyện cấp đổi Giấy CNQSD đất số DB417259 thuộc thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, diện tích 1.778,5m², trong đó ONT 800m², CLN 978,5m² cho ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị T. Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì thửa đất ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị T có diện tích 1.438.7m²
- Về nguồn gốc thửa đất được cấp cho ông Dương N1:
Theo lời khai của nguyên đơn và cung cấp của chính quyền địa phương thì thửa đất được HTX giao cho ông Dương N1 và bà Phan Thị X2 (cha mẹ đẻ của ông Dương Văn P) vào năm 1979. Theo bản đồ 299 và số mục kê xác lập năm 1986 thì thửa đất số 119, diện tích 800m2, loại đất T, tên chủ sử dụng đất là ông T4 (kê khai theo phong tục con trai đầu). Ngày 20/12/1996 được UBND huyện cấp Giấy CNQSD đất số H710307 cho ông Dương N1 thuộc thửa đất số 120+119, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.200m², trong đó ONT 200m2 và CLN 1.000m², số vào sổ cấp giấy 141. Theo đo đạc bản đồ địa chính năm 2004 thuộc thửa đất số 178, tờ bản đồ số 25 diện tích 1.795,8m², tên chủ sử dụng đất là Dương Xuân A1 (em trai ông Dương Văn P). Theo đo đạc bản đồ năm 2014 tên chủ sử dụng đất là Dương Xuân A1 được tách thành 02 thửa gồm: Thửa đất số 259, tờ bản đồ số 28 diện tích 1.035,1m² và thửa đất số 258, tờ bản đồ số 28 diện tích 471,7m² (thửa đất này đã được ông Dương N1 bán cho ông Nguyễn Văn T7 vào khoảng năm 2001-2002, đã xây dựng nhà ở kiên cố nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng, tách thửa).
- Về diện tích đất tranh chấp: Thửa đất nguyên đơn khởi kiện theo bản đồ 299, thuộc một phần diện tích thửa đất số 20, tờ bản đồ số 3, diện tích 1200m², tên chủ sử dụng đất là UBND xã, loại đất trồng cây. Năm 1996, diện tích đất thửa 120 do cả hai hộ gia đình ông Lê T12 và ông Dương N1 sử dụng nên khi lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND xã C đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hai hộ gia đình. Ông Lê T12 (bố ông Dương Xuân Đ2) được giao sử dụng thửa đất số 121 + 120 diện tích 1200m²; ông Dương N1 (bố ông Dương Văn P) được giao sử dụng thửa đất số 119 + 120 diện
10
tích 1200m². Hồ sơ quản lý đất đai thửa đất giữa hai gia đình có thay đổi về diện tích, nên giữa hai hộ chưa thống nhất được ranh giới cụ thể. Quá trình giải quyết vụ án ông Dương Văn P cho rằng trước đây thửa đất 120 tờ bản đồ số 3 bản đồ 299 là vùng rạch nước nên trong quá trình sử dụng đất, ông Dương N1 đã khai hoang, sử dụng thêm một phần diện tích đất ở thửa đất số 120. Quá trình sử dụng năm 2000, ông Dương N1 bán một phần diện tích đất chô ông Nguyễn Văn T7, phần diện tích đất tranh chấp ông Dương N1 cho ông Dương Văn P.
Tại biên bản làm việc với ông Nguyễn Khắc D1 là cán bộ Hợp tác xã chia đất cho hộ gia đình ông Dương N1 và ông Lê T12 khẳng định “tại phía Đông thửa đất của ông Lê T12 có một con mương tiêu thoát nước, vì vậy HTX không giao cho gia đình nào. Năm 1990, ông Lê Thành cải t mương và có trồng tre dọc bờ mương bên phía đất nhà ông Lê T12 và sử dụng cho đến nay”. Hiện tại con mương tiêu thoát nước không còn tồn tại nên không có căn cứ để xác định ranh giới giữa hai hộ gia đình theo con mương tiêu thoát nước.
- Xem xét hồ sơ quản lý đất đai qua các thời kỳ giữa hai hộ gia đình ông Lê Xuân Đ với ông Dương N1, thấy rằng:
Năm 1996, cả hai hộ gia đình ông Lê T12 (bố ông Đ) và ông Dương N1 (bố ông P) đều được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hộ ông Lê T12 quản lý sử dụng thửa 121, do có sử dụng một phần diện tích đất thửa 120 nên được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hai thừa, gồm thửa 121 + 120 diện tích 1.200m². Hộ ông Dương N1 quản lý sử dụng thửa 119, do có sử dụng một phần diện tích thửa đất 120 nên được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hai thửa 119+120, diện tích 1.200m2, theo bản đồ 299 diện tích đất hai thửa bằng nhau.
Năm 2004, thực hiện chủ trương đo đạc lại bản đồ địa chính, tại kết quả đo vẽ bản đồ địa chính năm 2004, thể hiện: thửa đất ông Lê T12 thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ 25, diện tích 1.446,3m²; thửa đất ông Dương N1 thuộc thửa đất số 178, tờ bản đồ 25, diện tích 1.795,8m² mang tên chủ sử dụng đất là ông Dương Xuân A1 (do năm 2004 ông Dương N1 chết nên đứng tên con trai cả), như vậy phần diện tích đất của hai hộ gia đình có thay đổi so với bản đồ 299, diện tích sử dụng đất của hộ gia đình ông Dương N1 lớn hơn diện tích đất của hộ ông Lê T12. Thời điểm lập bản đồ 2004 ông Lê T12 (bố ông Lê Xuân Đ) còn sống và ký vào biên bản xác định ranh giới, mốc giới kiêm hồ sơ kỹ thuật thữa đất. Như vậy, năm 2004 ông Lê T12 đã xác định mốc ranh giới giữa hai hộ theo bản đồ đo đạc năm 2004.
Năm 2014, thực hiện chủ trương đo đạc lại bản đồ địa chính, thửa đất hai hộ gia đình có thay đổi. Hộ ông Lê Xuân Đ thuộc thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, diện tích 1.778,5m², tên chủ sử dụng đất là Lê Xuân Đ (diện tích đất lớn hơn đo vẽ năm 2004 là 1.778,5m² – 1.446,3m² = 332,2m²), hộ ông Dương N1 (Dương Xuân A1) được tách thành 02 thửa gồm: Thửa đất số 259, tờ bản đồ số
11
28 diện tích 1.035,1m² và thửa đất số 258, tờ bản đồ số 28 diện tích 471,7m² (thửa 258 ông Dương N1 bán cho ông T7, hiện tại đất chưa tách thửa). Tổng diện tích đất hai thửa là 1.506,8m2, nhỏ hơn bản đồ địa chính năm 2004 là 289m². Tại thời điểm đo vẽ bản đồ địa chính không ký giáp ranh giữa hai hộ gia đình.
Phần diện tích đất tranh chấp giữa hai hộ gia đình theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 6/7/2023, xác định phần đất tranh chấp có diện tích 332,5m² (trong đó có 147m² thuộc diện tích đất HLAT đường điện 35KW), phần diện tích đất 332,5m² đất này tại thời điểm đo vẽ bản đồ địa chính năm 2004 nằm trong thửa đất hộ gia đình ông Dương N1 (Dương Văn A2). Đến năm 2014 đo vẽ lại bản đồ địa chính lại thuộc phần đất của hộ gia đình ông Lê Xuân Đ, năm 2021, ông Lê Xuân Đ lập hồ sơ đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 417259 ngày 07/07/2021, thuộc thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, diện tích 1.778,5m², tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh mang tên ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T.
Ông Dương Văn P cho rằng trước đây ranh giới sử dụng của hai hộ gia đình là vùng rạch nước (mương tiêu nước), hiện nay vùng rạch nước không còn nhưng trên phần đất tranh chấp ông vẫn sử dụng. Năm 2004 khi thực hiện đo vẽ bản đồ địa chính (thời điểm này ông Dương N1 đã mất 2002), ông Lê T12 (bố ông Lê Xuân Đ) còn sống đã trực tiếp ký vào biên bản xác định mốc ranh giới xác định diện tích đất thực tế gia đình quản lý sử dụng là 1.446,3m².
Năm 2014, ông Dương Văn P tiến hành xây bờ rào làm ranh giới giữa hai hộ gia đình, hiện nay bờ rào ông P xây vẫn còn nguyên hiện trạng. Tại thời điểm lập đo vẽ lại bản đồ địa chính năm 2014 và lập hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Lê Xuân Đ, diện tích hộ ông Lê T12 (Lê Xuân Đ) tăng từ 1.446,3m² lên 1.778,5m², nhưng UBND xã C không lấy ý kiến các hộ liền kề đồng thời ký giáp ranh các hộ liền kề trong đó có ý kiến của hộ ông Dương Văn A2, Dương Văn P (con ông Dương N1).
Quá trình giải quyết vụ án UBND huyện N, tỉnh Hà Tĩnh khẳng định “Việc UBND xã C họp xét xác định nguyên nhân biến động tăng diện tích thửa đất của ông Lê Xuân Đ trong hồ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 417259 tăng 578,5m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu là “do khi kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu hộ chưa kê khai hết diện tích, hiện trạng sử dụng ranh giới ổn định, không tranh chấp lấn chiếm” là không đúng với hồ sơ địa chính, hiện trạng thực tế; Theo Văn bản phân chia tài sản thừa kế lập ngày 28/11/2018 được UBND xã C chứng thực phản ánh ông Lê T12 (bố ông Lê Xuân Đ) chết ngày 12/9/2007 nhưng trong phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, tại thôn N, xã C ngày 15/3/2015 tên chủ sử dụng ông Lê T12 và có chữ ký ông T12 là không đúng".
12
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/7/2023: Thửa đất hộ ông Lê Xuân Đ thực tế đang sử dụng có tổng diện tích 1.438,9m² phía giáp đất tranh chấp là hàng rào xây bằng gạch do ông Dương Văn P xây dựng năm 2014, xác định mốc ranh giới giữa hai hộ gia đình, phần diện tích đất hộ ông Lê Xuân Đ thực tế đang sử dụng phù hợp với bản đồ địa chính đo vẽ năm 2004.
Như vậy, việc UBND xã C lập hồ sơ đề nghị UBND huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Xuân Đ không căn cứ vào hồ sơ địa chính và hiện trạng thực tế sử dụng giữa hộ gia đình ông Lê Xuân Đ với hộ gia đình ông Dương Văn P, Dương Văn A2 là không chính xác. Tại thời điểm đo vẽ bản đồ địa chính năm 2014 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Xuân Đ không ký giáp ranh hộ liền kề là ông Dương Văn A2 là không đúng quy định pháp luật, dẫn đến UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 417259 cấp ngày 07/07/2021, thuộc thửa đất số 267, diện tích 1.778,5m², thuộc tờ bản đồ số 28 tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh mang tên ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T là không đúng diện tích, hình thể thửa đất thực tế gia đình sử dụng.
Quá trình giải quyết vụ án đồng thừa kế ông Dương N1 là: ông Dương Văn T4, ông Dương Văn T3, ông Dương Văn T5, ông Dương Minh A, anh Lê Văn Đ1 chị Lê Thị N (con bà Dương Thị L), bà Dương Thị X1 đều thống nhất ủy quyền cho ông Dương Văn P giải quyết toàn bộ vụ án và đồng ý để lại diện tích thửa đất 332,5m² là di sản ông Dương N1 để lại cho ông P được quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa ông Lê Xuân Đ cũng thừa nhận tường rào ngăn cách là do ông Dương Văn P xây dựng và có trước khi gia đình ông Đ xây nhà (thời điểm xây nhà ông Đ đang ở nước ngoài).
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng có căn cứ để hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 417259 cấp ngày 07/07/2021, thuộc thửa đất số 267, diện tích 1778,5m², thuộc tờ bản đồ số 28 tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh mang tên ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T. Trả lại diện tích đất 332,5 m² tại thửa đất 119 + 120, tờ bản đồ số 03, bản đồ 299, (theo Bản đồ địa chính 2004 là thửa đất số 178, tờ bản đồ số 25) tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cho gia đình ông Dương N1.
3. Về án phí, chi phí tố tụng khác:
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về chi phí tố tụng khác: Bị đơn ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T phải chịu chi phí thẩm định, định giá tài sản. Nguyên đơn ông Dương Văn P đã nộp tạm ứng chi phí thẩm định, định giá nay buộc bị đơn ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T phải
13
trả lại cho nguyên đơn Dương Văn P 9.400.000 đồng tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng Điều 26, Điều 34, Điều 37, 38, 147, 157, 158, 165, 166 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, 170 Luật đất đai 2013; Điều 158, 161, 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn P:
- - Hủy GCNQSD đất số DB417259 do UBND huyện cấp ngày 07/7/2021 cho ông Lê Xuân Đ và bà Lê Thị T thuộc thửa đất số 267, tờ bản đồ số 28, bản đồ 2014 diện tích 1.778,5m²
- - Trả lại diện tích đất 332,5 m² tại thửa đất 119 + 120, tờ bản đồ số 03, bản đồ 299, (theo Bản đồ địa chính 2004 là thửa đất số 178, tờ bản đồ số 25) tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cho ông Dương Văn P. (Có sơ đồ kèm theo).
2. Về án phí, chi phí tố tụng khác:
Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho nguyên đơn ông Dương Văn P 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh theo biên lai số 0000337 ngày 20/10/2022.
Bị đơn ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng khác: Bị đơn ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá tài sản. Ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị T phải trả lại cho ông Dương Văn P 9.400.000 (chín triệu bốn trăm nghìn) đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản mà ông P đã nộp.
3. Quyền kháng cáo : Đương sự có mặt có quyền quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Trường hợp bên có nghĩa vụ trả tiền, chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận giữa các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; nếu
14
không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
Bản án số 17/2023/DS-ST ngày 21/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy cnqsd đất
- Số bản án: 17/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, Yêu cầu hủy giấy CNQSD đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Văn P khởi kiện tranh chấp QSD đất Lê Xuân Đ
