|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/DS-ST
Ngày: 25/9/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Vinh
Ông Hồ Bá Toàn
Thư ký phiên tòa: Ông Lý Văn Hơn - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp tham gia phiên tòa: bà Huỳnh Thị Dạ Thảo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 25/2024/TLST - DS ngày 25/3/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST- DS ngày 06/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ: số B, L, phường T, quận B, Thành Phố Hà Nội;
-Đại diện theo pháp luật: ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc;
-Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hữu P, Chức vụ: Giám đốc chi nhánh Ngân hàng N chi nhánh huyện B, T (theo văn bản ủy quyền số 2665/QĐ-NHHH-PC ngày 01/12/2022 của Tổng giám đốc A) ủy quyền lại ông Nguyễn Minh Q – Giám đốc Phòng N chi nhánh huyện Bù Đốp, Tây Bình Phước.
Cùng Khu phố Thanh Xuân, thị trấn Thanh Bình, huyện Bù Đốp tỉnh Bình Phước
-Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1973
Nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước
-Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974
Nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 25/3/2024 cùng các bản ghi lời khai, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Minh Q trình bày:
Vào ngày 29 tháng 3 năm 2019, ông Lê Văn L có ký kết hợp đồng tín dụng số: 5612-LAV-201901520 với Ngân hàng N chi nhánh B Phòng N để vay 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) để chăn nuôi bò thịt. Theo hợp đồng, hai bên thỏa thuận thời hạn trả là 12 tháng kể từ ngày vay với lãi suất cơ bản tại thời điểm ký hợp đồng là 9,8%/năm. Tuy nhiên, đã đến thời hạn trả nợ nhưng ông L vẫn chưa trả gốc và lãi cho Ngân hàng theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng số: 5612-LAV-201901520.
Nay, Ngân hàng N (A) Chi nhánh huyện B - T - Phòng N khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng số tiền nợ là: 158.091.205đồng (một trăm năm mươi tám triệu không trăm chín mươi mốt nghìn hai trăm lẻ năm đồng) theo hợp đồng tín dụng đã ký kết tạm tính đến ngày 25/9/2024. Trong đó:
- - Nợ gốc: 100.000.000 đồng
- - Nợ lãi trong hạn: 9.880.548đồng
- - Nợ lãi quá hạn: 48.210.657đồng
Trường hợp ông L và người có nghĩa vụ liên quan bà H không trả được, Ngân hàng đề nghị được phát mãi các tài sản đã thế chấp là 01 thửa đất số 767, tờ bản đồ số 11, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 146428, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 00428 do UBND huyện B, tỉnh Bình Phước cấp ngày 31/12/2009 cho hộ ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị H, diện tích 1129,4m², đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước và 01 thửa đất số 178, tờ bản đồ số 22, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 891512, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 000120 do UBND huyện B, tỉnh Bình Phước cấp ngày 31/5/2009 cho bà Nguyễn Thị H, diện tích 1049m², đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước để thu hồi số nợ trên.
-Trong quá trình Tòa án giải quyế vụ án, bị đơn ông Lê Văn L và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông L, bà H vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tòa án vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng năm 2015.
[2] Về tố tụng và quan hệ tranh chấp: Ngày 29 tháng 3 năm 2019, ông Lê Văn L có ký kết hợp đồng tín dụng số: 5612-LAV-201901520 với Ngân hàng N – chi nhánh B – Phòng N để vay 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) để chăn nuôi bò thịt. Theo hợp đồng, hai bên thỏa thuận thời hạn trả là 12 tháng kể từ ngày vay với lãi suất cơ bản tại thời điểm ký hợp đồng là 9,8%/năm. Tuy nhiên, đã đến thời hạn trả nợ nhưng ông L vẫn chưa trả gốc và lãi cho Ngân hàng theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng số: 5612-LAV-201901520. Do phát sinh tranh chấp nên nguyên đơn khởi kiện theo Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do; Tòa án đã triệu tập hợp lệ và tiến hành giao các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải trả số tiền vay từ hợp đồng tín dụng số: 5612-LAV-201901520 ký ngày 29/3/2019 là: 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) và tiền lãi là 58.091.205₫ (năm mươi tám triệu không trăm chín mươi mốt nghìn hai trăm lẻ năm đồng) khoản lãi trên được tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 25/9/2024. Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của nguyên đơn có cở sở để Hội đồng xét xử xác định bị đơn và nguyên đơn đã ký hợp đồng tín dụng trên, thời hạn vay là 12 tháng nhưng sau 12 tháng bị đơn không trả nên bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký trên, vi phạm Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên việc ngân hàng yêu cầu bị đơn phải trả số tiền trên là phù hợp với các quy định của pháp luật nên yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ các bên đã ký hợp đồng thế chấp tài sản là: 01 thửa đất số 767, tờ bản đồ số 11, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 146428, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 00428 do UBND huyện B, tỉnh Bình Phước cấp ngày 31/12/2009 cho hộ ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị H, diện tích 1129,4m², đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước và 01 thửa đất số 178, tờ bản đồ số 22, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 891512, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 000120 do UBND huyện B, tỉnh Bình Phước cấp ngày 31/5/2009 cho bà Nguyễn Thị H, diện tích 1049m², đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Hợp đồng thế chấp do ông L ký, có sự ủy quyền của bà H, hợp đồng đã được đăng ký tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B ngày 29/3/2019 là hợp pháp. Do vậy, việc yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của phía nguyên đơn đối với bị đơn nếu không trả được nợ hoặc không trả hết nợ là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 299, Điều 303 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản của nguyên đơn.
[4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, chi nhánh B - T –Phòng N được chấp nhận nên tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ông L, bà H phải trả 5.000.000 (năm triệu) đồng cho Ngân hàng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông L, bà H phải chịu án phí theo luật định,
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 26, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 299; Điều 303; Điều 320; Điều 323; Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 91; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010. Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn
- -Buộc ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng N, chi nhánh B - T- Phòng N số tiền 158.091.205đ (một trăm năm mươi tám triệu không trăm chín mươi mốt nghìn hai trăm lẻ năm đồng)
- -Trong đó: Tiền gốc là 100.000.000đồng (một trăm triệu) đồng và tiền lãi là 58.091.205₫ (năm mươi tám triệu không trăm chín mươi mốt nghìn hai trăm lẻ năm đồng).
- -Kể từ ngày án có hiệu lực và Người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án; nếu người bị thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì phải chịu lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 5612-LAV-201901520 với Ngân hàng N – chi nhánh B – Phòng N tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (26.9.2024) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Trường hợp Người bị thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Nguyên đơn có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước tiến hành bán đấu giá tài sản thế chấp là: 01 thửa đất số 767, tờ bản đồ số 11, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 146428, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 00428 do UBND huyện B, tỉnh Bình Phước cấp ngày 31/12/2009 cho hộ ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị H, diện tích 1129,4m², đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước và 01 thửa đất số 178, tờ bản đồ số 22, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 891512, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 000120 do UBND huyện B, tỉnh Bình Phước cấp ngày 31/5/2009 cho bà Nguyễn Thị H, diện tích 1049m², đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước theo hợp đồng thế chấp ngày 29/3/2019 để thu hồi nợ.
-
Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N-Chi nhánh B - T- Phòng N số tiền 5.000.000 (Hai triệu) đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- -Buộc ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới nộp 7.904.560đ (bảy triệu chín trăm lẻ bốn nghìn năm trăm sáu mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- -Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đốp hoàn trả lại cho Ngân hàng N-Chi nhánh B - T- Phòng N 3.952.000đ (ba triệu chín trăm năm mươi hai nghìn đồng) theo biên lai số 0007054 ngày 21/3/2024.
-
Về hướng dẫn thi hành án dân sự:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nghuyễn Thị Minh Nghĩa |
Bản án số 17/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 17/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
