TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/DS-ST
Ngày 19 tháng 7 năm 2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm.
Ông Nguyễn Bá Điền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký TAND tỉnh Phú Thọ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa-Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 08/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-DS ngày 17/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QÐST-DS ngày 03/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1954;
Và Bà Phan Thị T, sinh năm 1949;
Cùng địa chỉ: Khu S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Ông H có mặt, bà T vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị T: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1954; địa chỉ: Khu S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Theo giấy ủy quyền ngày 03/6/2024. (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1945; Địa chỉ: Khu S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1955; Địa chỉ: Khu S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị V: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1954 địa chỉ: Khu S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Theo giấy ủy quyền ngày 03/6/2024. (Có mặt).
2. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị T1: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1945; Địa chỉ: Khu S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Theo giấy ủy quyền ngày 17/7/2024 (Có mặt).
3. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1980; Địa chỉ: Xóm M, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
4. Anh Nguyễn Như X, sinh năm 1977; Địa chỉ: Xóm T, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ .(Có mặt).
5. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khu D, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang ở nước ngoài (Vắng mặt).
6. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu D, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang ở nước ngoài (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/8/2023, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Hoàng Văn H trình bày:
Ông và bà Phan Thị T kết hôn năm 1976. Quá trình chung sống, ông bà được Nhà nước cấp quyền sử dụng thửa đất số 59, tờ bản đồ số 45, diện tích 1677m² tại khu S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Ngày 22/9/1996 UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông. Năm 1998, ông và bà T ly hôn tại Tòa án huyện T, khi đó Tòa án quyết định chia cho bà T là 780m² có chỉ giới cụ thể giáp đất ông Q 27m, giáp đất ông T3 21m, giáp đất bà L 32m, giáp phần đất của ông H là 33m (sau khi kiểm tra ở bản đồ 299 được xác định ranh giới giữa hai thửa đất của bà T và ông H là 31m, đúng với bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất nhà Ông Hoàng Văn H ngày 22/5/2024). Sau đó, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn cùng các cán bộ chuyên môn xã V đã thi hành giao đất cho bà T, phần của ông H còn lại là 843m² có chỉ giới cụ thể giáp đất ông Q 27m, giáp đất ông T3 27m, giáp đường xóm 33,5m, giáp phần đất của bà T là 33m (sau khi kiểm tra ở bản đồ 299 được xác định ranh giới giữa hai thửa đất của bà T và ông H là 31m, đúng với bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất nhà Ông Hoàng Văn H ngày 22/5/2024) và cắt một lối đi chung cho bà T và ông phía giáp nhà ông Q rộng 02m, dài 27m có diện tích 54m2, cả ông và bà T chưa làm thủ tục tách riêng bìa đỏ. Sau đó, năm 1999 ông đưa hai con vào miền nam sinh sống làm ăn, đến năm 2020 quay trở lại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì phát hiện trong năm 2018, UBND huyện T đã cấp đổi bìa đất cho ông và bà T số CA293862, số vào sổ CH03280 ngày 10/12/2018 số thửa 354 tờ bản đồ số 104 diện tích 1656,4m2 nhưng không tách phần của ông và bà T theo như bản án đã chia năm 1998 mà vẫn để chung bìa đất, sau đó ông đã yêu cầu UBND huyện T quyết định thu hồi bìa đất cấp đổi bìa cho ông và bà T. Cũng vì UBND huyện cấp đổi bìa của ông và bà T không đúng dẫn đến ông Q xây tường rào lấn vào phần đất của ông có chiều giáp mặt đường xóm khoảng 02 mét, sâu vào khoảng 15m.
Nay yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết, buộc ông Q phải trả lại cho ông 02 mét đất mặt đường chạy vào hết phần đất của ông (theo như bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 22/5/2024 đã được hai bên xác định ranh giới, mốc giới phần đất bà T đổi cho ông Q diện tích 18,9m2). Còn phần đất phía trong của bà T, ông Q đổi cho bà T là 18,9 m2, ông H, bà T có trách nhiệm trả lại cho ông Q. Ông Q phải có trách nhiệm tháo dỡ tường rào do ông Q xây dựng vào phần đất của ông và bà T để trả lại mặt bằng cho ông H. Ông H và bà T có trách nhiệm tháo dỡ chuồng gà xây dựng trên phần đất phải trả lại cho gia đình ông Q; Bà T và ông H có trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu phía đất đổi cho ông Q đã bị hạ cốt nền.
Ông H nhất trí với bản trích đo hiện trạng thửa đất nhà ông Hoàng Văn H ngày 22 tháng 5 năm 2024, theo đó, ông Q phải trả lại cho ông H và bà T diện tích đất 18,9m² theo các điểm 4,5,6,4 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất, và ông H, bà T phải trả lại cho gia đình ông Q diện tích đất 18,9m² theo các điểm 6,7,8,9,6 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất.
Về án phí, chi phí tố tụng, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Theo đơn khởi kiện ngày 14/8/2023 và biên bản lấy lời khai của Tòa án, bà Phan Thị T trình bày:
Nhất trí với quan điểm của ông Hoàng Văn H, đề nghị buộc ông Q phải trả lại cho ông H và bà 02 mét đất mặt đường chạy vào hết phần đất của ông H (theo như bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 22/5/2024 đã được hai bên xác định ranh giới, mốc giới phần đất bà T đổi cho ông Q diện tích 18,9m2). Còn phần đất phía trong của bà T, Ông Quế đổi cho bà T là 18,9 m², ông H, bà T có trách nhiệm trả lại cho ông Q.
* Theo bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Ông và bà Chử Thị T4 là vợ chồng được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng đất ngày 22/9/1996 tại thửa đất số 55-1, tờ bản đồ số 45, diện tích đất ở 1894m2 đứng tên ông ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống, vợ chồng ông ở trên diện tích đất này giáp với thửa đất của vợ chồng ông H, bà T. Đến ngày 10/12/2018, gia đình ông đã được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử đụng đất theo bản đồ số năm 2011, thửa đất số 334, tờ bản đồ số 104, diện tích 2249,2 m2, trong đó đất ở 1894 m2, đất trồng cây lâu năm 355,2 m2. Năm 2020, vợ ông bà Chử Thị T4 đã chết. Vợ chồng ông sinh được 05 người con gồm: Chị Nguyễn Thị T1, Anh Nguyễn Văn C, Anh Nguyễn Như X, Chị Nguyễn Thị S, Chị Nguyễn Thị T2 (chị T2, chị S hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ).
Vào khoảng năm 2014, gia đình ông và bà T có thỏa thuận đổi đất cho nhau ông xác định diện tích đất đổi (theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 22/5/2024) và gia đình ông đã xây hàng rào. Đến năm 2019, hai bên xảy ra tranh chấp, đến năm 2020, ông H, bà T khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn. Ông H và bà T đòi lại phần đất đã đổi với gia đình ông và ông H, bà T trả lại phần đất đã đổi cho gia đình nhà ông. Nay ông yêu cầu Ông H1 và bà T phải khôi phục lại tình trạng ban đầu ở phần đất đã đổi bởi vì ông H1, bà T đã hạ cốt nền.
Ông và các con nhất trí với bản trích đo hiện trạng thửa đất nhà ông Hoàng Văn H, ngày 22 tháng 5 năm 2024. Theo đó, Gia đình ông sẽ trả lại cho ông H và bà T diện tích đất 18,9m² theo các điểm 4,5,6,4 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất và ông H, bà T phải trả lại cho gia đình ông diện tích đất 18,9m² theo các điểm 6,7,8,9,6 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất.
Về án phí, chi phí tố tụng, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Theo bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Anh Nguyễn Văn C trình bày:
Nhất trí với quan điểm của ông Q, gia đình ông Q trả lại cho ông H và bà T diện tích đất 18,9m² theo các điểm 4,5,6,4 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất, và ông H, bà T phải trả lại cho gia đình ông Q diện tích đất 18,9m2 theo các điểm 6,7,8,9,6 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất.
Yêu cầu Ông H1 và bà T phải khôi phục lại tình trạng ban đầu ở phần đất đã đổi bởi vì ông H1, bà T đã hạ cốt nền.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Như X trình bày:
Anh nhất trí với quan điểm của ông Q và anh Nguyễn Văn C.
Tại phiên tòa đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án đã tiến hành theo đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ đề nghị:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 163, 164, 174, 175, 176 Bộ luật Dân sự; Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai; Điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 Điều 15, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Buộc ông Nguyễn Văn Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Như X, chị Nguyễn Thị S, chị Nguyễn Thị T2 phải trả lại cho ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T diện tích đất 18,9m² theo chỉ giới điểm 4,5,6,4 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất.
- Buộc Ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T phải trả lại cho ông Nguyễn Văn Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Như X, chị Nguyễn Thị S, chị Nguyễn Thị T2 diện tích đất 18,9m² theo chỉ giới điểm 6,7,8,9,6 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Q phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm theo quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử đụng đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
[1.2] Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Văn Q và bà Chử Thị T4 là vợ chồng được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/9/1996 tại thửa đất số 55-1, tờ bản đồ số 45, diện tích đất ở 1894m² đứng tên ông Q ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đến ngày 10/12/2018, gia đình ông Q đã được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử đụng đất theo bản đồ số năm 2011, thửa đất số 334, tờ bản đồ số 104, diện tích 2249,2 m², trong đó đất ở 1894 m², đất trồng cây lâu năm 355,2 m². Năm 2020, bà Chử Thị T4 đã chết. Vợ chồng ông Q sinh được 05 người con gồm: chị Nguyễn Thị T1, Anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Như X, chị Nguyễn Thị S, chị Nguyễn Thị T2. Những người con của ông Q, bà T4 là đồng thừa kế đối với di sản của bà chử Thị T5, do đó, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xác định 05 người con của ông Q, bà T5 là Chị Nguyễn Thị T1, A Nguyễn Văn C, Anh Nguyễn Như X, Chị Nguyễn Thị S, Chị Nguyễn Thị T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, ngày 08/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn đã có công văn số 420/CV - TA gửi Cục Q1 – Bộ C1 để xác định chị Nguyễn Thị S và chị Nguyễn Thị T2 có xuất cảnh ra nước ngoài hay không. Tại công văn số 30508/QLXNC – P3 ngày 15/11/2023 của Cục Q1 - Bộ C1 đã xác định: Chị S lần đầu xuất cảnh ngày 07/5/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh; Chị T2 xuất nhập cảnh nhiều lần, lần cuối xuất cảnh ngày 11/10/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn đã chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết theo thẩm quyền. Đối chiếu với quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
[1.3] Về thời hiệu: Tranh chấp quyền sử đụng đất không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
[1.4] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chị Nguyễn Thị S và Chị Nguyễn Thị T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với Chị Nguyễn Thị S và Chị Nguyễn Thị T2.
[2]. Về nội dung:
Ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T trước đây là vợ chồng được Nhà nước cấp quyền sử dụng thửa đất số 59, tờ bản đồ số 45, diện tích 1677m² tại khu S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ do UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/9/1996. Năm 1998, ông H và bà T ly hôn tại Tòa án huyện T, khi đó Tòa án quyết định chia cho bà T là 780m² đất có chỉ giới cụ thể giáp đất ông Q 27m, giáp đất ông T3 21m, giáp đất bà L 32m, giáp phần đất của ông H là 33m (sau khi kiểm tra ở bản đồ 299 được xác định ranh giới giữa hai thửa đất của bà T và ông H là 31m, đúng với bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất nhà Ông Hoàng Văn H ngày 22/5/2024). Sau đó, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn cùng các cán bộ chuyên môn xã V đã thi hành giao đất cho bà T, phần đất của ông H còn lại là 843m2 có chỉ giới cụ thể giáp đất ông Q 27m, giáp đất ông T3 27m, giáp đường xóm 33,5m, giáp phần đất của bà T là 33m (sau khi kiểm tra ở bản đồ 299 được xác định ranh giới giữa hai thửa đất của bà T và ông H là 31m, đúng với bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất nhà Ông Hoàng Văn H ngày 22/5/2024) chia ngang thửa đất và cắt một lối đi chung cho bà T và ông H phía giáp nhà ông Q rộng 02m, dài 27m có diện tích 54m2, cả ông H và bà T chưa làm thủ tục tách riêng bìa đỏ. Tuy nhiên, trên thực tế, ông H và bà T không phân chia đất theo quyết định của Bản án của Tòa án huyện Thanh Sơn và quyết định thi hành án của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn mà tự chia dọc đất và xây dựng nhà ở, sinh sống như thực trạng hiện nay.
Vào khoảng năm 2014, gia đình ông Q và bà T có thỏa thuận đổi đất cho nhau (theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 22/5/2024) và gia đình ông Q đã xây hàng rào theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 22/5/2024 thể hiện là một đường thẳng từ điểm 4,6,7,8.Thời điểm đó, ông H đưa hai con vào miền nam sinh sống làm ăn, không có ở nhà. Đến năm 2020 quay trở lại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì phát hiện trong năm 2018, UBND huyện T đã cấp đổi bìa đất cho ông và bà T số CA293862, số vào sổ CH03280 ngày 10/12/2018 số thửa 354 tờ bản đồ số 104 diện tích 1656,4m² nhưng không tách phần đất của ông và bà T theo như bản án đã chia năm 1998 mà vẫn để chung bìa đất. Cũng vì UBND huyện cấp đổi bìa đỏ của ông và bà T không đúng nên đã thu hồi và việc đổi đất của bà T và ông Q chỉ thỏa thuận miệng chưa điều chỉnh ranh giới, mốc giới nên nay ông H và bà T đề nghị đòi lại phần đất đã đổi và trả lại phần đất đã đổi cho gia đình ông Q.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc hiện trạng sử dụng đất của hai hộ ông Nguyễn Văn Q và ông Hoàng Văn H. Theo kết quả đo đạc hiện trạng, đối chiếu với bản đồ địa chính 299 là bản đồ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì thấy về vị trí, kích thước có sự sai lệch, chồng lấn. Cụ thể:
Gia đình ông Nguyễn Văn Q đã xây bờ rào lấn sang phần đất nhà ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T với diện tích đất 18,9m² theo các điểm 4,5,6,4 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất.
Ông Hoàng Văn H đã xây chuồng gà trên phần đất lấn sang đất nhà ông Nguyễn Văn Q với diện tích đất 18,9m² theo các điểm 6,7,8,9,6 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất.
Bên cạnh đó, theo bản án hôn nhân gia đình của Tòa án huyện Thanh Sơn, quyết định chia cho bà T là 780m² có chỉ giới cụ thể giáp đất ông Q 27m, giáp đất ông T3 21m, giáp đất bà L 32m, giáp phần đất của ông H là 33m; phần đất của ông H còn lại là 843m² có chỉ giới cụ thể giáp đất ông Q 27m, giáp đất ông T3 27m, giáp đường xóm 33,5m, giáp phần đất của bà T là 33m (sau khi kiểm tra ở bản đồ 299 được xác định ranh giới giữa hai thửa đất của bà T và ông H là 31m, đúng với bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất nhà Ông Hoàng Văn H ngày 22/5/2024) và cắt một lối đi chung cho bà T và ông H phía giáp nhà ông Q rộng 02m, dài 27m có diện tích 54m2, cả ông H và bà T chưa làm thủ tục tách riêng bìa đỏ. Tuy nhiên, theo thực tế hiện trạng sử dụng đất hiện nay, ông H và bà T không phân chia đất theo quyết định của Bản án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn và chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn đã chia mà phần đất của ông H và bà T được chia dọc theo mặt đường xóm, theo đó, đất của ông H giáp với đất nhà ông Q, đất nhà bà L, đất nhà bà T và mặt đường xóm; đất của bà T giáp với đất nhà ông H, đất nhà bà L, đất nhà ông T3 và mặt đường xóm. Hiện ông H, bà T đều đã xây nhà ở ổn định trên đất. Phần đất được cắt làm lối đi chung cho bà T và ông H theo quyết định của Bản án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn giáp nhà ông Q rộng 02m, dài 27m có diện tích 54m2 hiện ông H đã xây dựng nhà một phần trên diện tích đất này và ở ổn định.
Thời điểm thỏa thuận trao đổi đất giữa ông Q và bà T thì ông H không biết và đường đi này là đường đi chung giữa ông H và bà T nên việc thỏa thuận trao đổi đất giữa bà T và ông Q không có sự đồng ý của ông H là vô hiệu và việc các bên đổi đất cho nhau cũng chưa được cấp có thẩm quyền điều chỉnh biến động đất. Nay cần buộc các bên phải trả lại phần diện tích đất đã đổi cho nhau và hoàn trả lại hiện trạng ban đầu là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
Do vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T là có căn cứ được chấp nhận.
[3] Tại phiên tòa, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí, chi phí tố tụng:
- Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, chi phí tố tụng bao gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc, chi phí định giá tài sản, tổng số tiền 5.006.084 đồng. Quá trình giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, chi phí tố tụng bao gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí đo đạc lại, tổng số tiền 17.300.000 đồng. Xác nhận ông Hoàng Văn H đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tổng số tiền 22.306.084 đồng.
Do hai bên đều có lỗi nên nguyên đơn và bị đơn, mỗi bên phải chịu ½ chi phí tố tụng là 11.153.042 đồng.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn Q được miễn án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 157; Điều 158; Khoản 1 Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 163, 164, 174, 175, 176 Bộ luật Dân sự; Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai; Điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[2] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Tuyên xử:
- Buộc ông Nguyễn Văn Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chị Nguyễn Thị T1, Anh Nguyễn Văn C, Anh Nguyễn Như X, Chị Nguyễn Thị S, Chị Nguyễn Thị T2 phải trả lại cho ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T diện tích đất 18,9m2 theo chỉ giới điểm 4,5,6,4 theo bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất.
- Buộc Ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T phải trả lại cho Ông Nguyễn Văn Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chị Nguyễn Thị T1, Anh Nguyễn Văn C, Anh Nguyễn Như X, Chị Nguyễn Thị S, Chị Nguyễn Thị T2 diện tích đất 18,9m2 theo chỉ giới điểm 6,7,8,9,6 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất.
- Buộc Ông Nguyễn Văn Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chị Nguyễn Thị T1, Anh Nguyễn Văn C, Anh Nguyễn Như X, Chị Nguyễn Thị S, Chị Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm tháo dỡ tường rào đã xây dựng trên diện tích đất của Ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T để trả lại mặt bằng đất cho Ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T.
- Buộc Ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T có trách nhiệm tháo dỡ chuồng gà xây dựng trên diện tích đất phải trả lại cho Ông Nguyễn Văn Q và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chị Nguyễn Thị T1, Anh Nguyễn Văn C, Anh Nguyễn Như X, Chị Nguyễn Thị S, Chị Nguyễn Thị T2; Ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T có trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu diện tích đất phải trả cho gia đình ông Nguyễn Văn Q đã bị hạ cốt nền.
Ranh giới giữa thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn Q và thửa đất của ông Hoàng Văn H, bà Phan Thị T là 02 đoạn thẳng gồm đoạn thẳng nối các điểm 5,6,9 và đoạn thẳng nối các điểm 9,8 trên bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất. (Có bản vẽ trích đo kèm theo)
[3] Về chi phí tố tụng:
Nguyên đơn Ông Hoàng Văn H và bà Phan Thị T phải chịu chi phí tố tụng gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc, chi phí định giá tài sản là 11.153.042 đồng (Mười một triệu một trăm năm mươi ba nghìn không trăm bốn mươi hai đồng).
Bị đơn ông Nguyễn Văn Q phải chịu chi phí tố tụng gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc, chi phí định giá tài sản là 11.153.042 đồng (Mười một triệu một trăm năm mươi ba nghìn không trăm bốn mươi hai đồng).
Xác nhận Ông Hoàng Văn H đã nộp đủ toàn bộ chi phí tố tụng tổng số tiền 22.306.084 đồng.
Buộc Ông Nguyễn Văn Q có trách nhiệm hoàn trả số tiền 11.153.042 đồng (Mười một triệu một trăm năm mươi ba nghìn không trăm bốn mươi hai đồng) tiền chi phí tố tụng cho ông Hoàng Văn H.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự cho ông Nguyễn Văn Quế.
[5] Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày; Chị Nguyễn Thị S và Chị Nguyễn Thị T2 có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 17/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 17/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn H - Nguyễn Văn Q
