|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/DS-ST
Ngày: 01/10/2024
(V/v: Đòi đất cho mượn)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Lan Hương;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Linh, ông Trịnh Xuân Nguyên
Thư ký phiên tòa: ông Ninh Viết Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) Thành
phố (TP) Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) TP Hòa Bình tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử, TAND TP Hòa Bình, tỉnh Hòa
Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 148/2023/TLST-DS
ngày 22/11/2023; về việc: “Đòi lại tài sản, quyền sử dụng đất cho mượn”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-DS ngày 13/9/2024 và Quyết định hoãn
phiên tòa, có ấn định thời gian mở lại phiên tòa giữa các đương sự:
*/ Nguyên đơn: Công ty Cổ phần (CP) tư vấn xây dựng giao thông H;
Địa chỉ: Tổ H, phường D, TP H, tỉnh Hòa Bình.
Người đại diện theo pháp luật: ông Đào Việt H, Chủ tịch HĐQT.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị D, sinh năm 1966
Địa chỉ: Số nhà A, ngõ I, đường T, tổ A, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
*/ Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970
Địa chỉ: Tổ H, phường D, TP H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: anh Nguyễn Đức A, sinh năm 1990
Địa chỉ: số A, đường H, Tổ E, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
*/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm:
- Anh Nguyễn Anh T1, sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ H, phường D, TP H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1999
Địa chỉ: số nhà B, ngách E, ngõ E đường T, tổ A, phường T, TP T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Bà Phạm Thị C, sinh năm 1942
Địa chỉ: Tổ H, phường D, Tp H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
- Sở Giao thông vận tải tỉnh Hòa Bình
Địa chỉ: Đường C, phường Đ, TP H, tỉnh Hòa Bình
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Anh T3 – Giám đốc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bên bị đơn đề nghị Tòa án đưa vào tham gia tố tụng:
- Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Hòa Bình
Địa chỉ: Đường An Dương Vương, phường Phương Lâm, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn K, Chủ tịch.
Bằng văn bản số: 1651/UBND – NVK ngày 18/9/2024, UBND tỉnh H ủy quyền cho Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh H tham gia tố tụng.
- Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Hòa Bình
Địa chỉ: Đường T, phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình. Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Quang T4 – Giám đốc.
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Phương Đ – Phó Giám đốc.
- Cục Thuế tỉnh Hòa Bình
Địa chỉ: Đường C, phường Q, TP H, tỉnh Hòa Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Hồng L – Cục trưởng.
Người đại diện tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hương N – Phó Cục trưởng.
(Các cơ quan trên đều có văn bản trình bày ý kiến, đề nghị vắng mặt).
NHẬN THẤY
1. Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn Công ty CP T và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty CP T, mã số doanh nghiệp: 5400101890, đăng ký lần đầu: ngày 31/12/2004. Lịch sử thành lập từ những năm 1960 – 1965, trước đó là: Xí nghiệp khảo sát thiết kế giao thông trực thuộc Sở G. Trải qua quá trình phát triển, thay đổi đến năm 1996 trở thành Công ty T, theo Quyết định số 459-QĐ/UB ngày 08/7/1996 của UBND tỉnh H. Đến năm 2004, UBND tỉnh H ban hành QĐ số 2587/QĐ-UB ngày 16/12/2004 về việc phê duyệt phương án chuyển Công ty T thành Công ty CP T kể từ ngày 01/01/2005. Từ khi thành lập cho đến nay Công ty có trụ sở làm việc gắn liền với quyền sử dụng đất tại: Đường V, tổ B, phường C (cũ), nay là tổ H, phường D, TP H. Hiện tại đã được UBND tỉnh H cấp Giấy chứng nhận QSD đất số BA668447, số vào sổ CT00279 cấp ngày 22/6/2011, mục đích sử dụng: đất cơ sở sản xuất kinh doanh, thửa đất số 55, 56, Tờ bản đố 26 tại địa chỉ nêu trên. Cùng với sự thay đổi về cơ cấu tổ chức thì QSD đất của Công ty cũng được chuyển sang hình thức Nhà nước cho thuê, trả tiền sử dụng đất hàng năm.
Trong khoảng năm 1995 đến năm 1997, do đời sống cán bộ, nhân viên của đơn vị còn khó khăn nên một số cán bộ, nhân viên có làm đơn xin mượn đất để làm nhà ở tạm trong thời gian làm việc tại đơn vị; xét nhu cầu thực tế, Lãnh đạo và Công đoàn Công ty đã nhất trí cho mượn; khi cơ quan có nhu cầu, kế hoạch sử dụng thì người mượn phải trả lại nguyên trạng mặt bằng đất. Trên thực tế, các hộ gia đình hầu hết đều đã tự nguyện trả lại đất cho Công ty; chỉ duy nhất có ông Nguyễn Đức T5 là dây dưa không trả. Dẫn đến việc Công ty phải khởi kiện vụ việc ra Tòa án yêu cầu giải quyết với nội dung yêu cầu cụ thể như sau:
Trên cơ sở “Đơn xin mượn đất”, có xác nhận của Công đoàn Công ty ngày 15/01/1997, ông Nguyễn Đức T5 khi ấy là: công nhân đội khảo sát thiết kế công trình giao thông; ngày 23/01/1997, Lãnh đạo đơn vị có xét duyệt cho ông T5 được mượn 60 m² đất để “làm nhà tạm” trong thời gian làm việc ở đơn vị. Trong “Đơn xin mượn đất” ông T5 còn ghi rõ: “Thực hiện tốt các nội quy cơ quan đề ra”. Cơ quan ghi rõ khi cơ quan có nhu cầu sử dụng thì ông T5 phải trả lại số đất đã mượn. Đơn ông T5 viết, ký tên xác nhận.
Năm 2010, ông T5 chuyển công tác đi làm việc ở nơi khác thì Công ty có mời ông T5 lên để trao đổi, yêu cầu ông T5 lo di dời chuyển chỗ ở, trả lại mặt bằng đất Công ty, ông T5 cũng đồng ý nhưng sau đó ông T5 có lên trình bày hoàn cảnh gia đình, vợ con kinh tế khó khăn, chưa chuẩn bị được nơi ở mới nên có nguyện vọng xin ở thêm một thời gian để khắc phục khó khăn trước mắt. Lúc này Công ty đã nói với ông T5 là: Hộ ông ở thêm thì Công ty cũng thông cảm hoàn cảnh nhưng hiện tại điều kiện Công ty nguồn thu khó khăn mà hàng năm vẫn phải nộp tiền thuê đất cho Nhà nước nên hộ gia đình ở trên đất Công ty cho mượn thì phải có nghĩa vụ trách nhiệm trả một khoản tiền tương ứng để Công ty nộp tiền thuê đất cho Nhà nước. Hộ ông T5 nhất trí, tự nguyện nộp, không thắc mắc gì. Nên từ 2011 đến năm 2020, theo bảng kê của Công ty thì hộ ông bà T5 - Thư hàng năm có nộp một khoản tiền và được Công ty lập phiếu thu. Năm 2019, ông T5 chết, bà T là vợ ông T5 vẫn ở trên đất mượn của Công ty. Từ năm 2021, do nhu cầu sử dụng đất để củng cố phát triển kinh doanh nên Công ty tiếp tục đòi đất. Công ty đã nhiều lần mời hộ bà T đến làm việc, giải thích, vận động để bà T di dời trả lại mặt bằng đất cho Công ty. Nhưng bà T không đồng ý. Dẫn đến việc Công ty phải làm đơn yêu cầu UBND phường giải quyết nhưng không thành. Công ty tiếp tục làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị T cùng các thành viên hộ gia đình đang ở trên đất phải ra khỏi và di dời, tháo dỡ, phá bỏ toàn bộ tài sản, nhà ở, kiến trúc khác trên diện tích đất mượn của Công ty. Trả lại mặt bằng quyền sử dụng đất đã mượn như hiện trạng ban đầu theo đúng thỏa thuận cam kết trong “Đơn xin mượn đất”.
Về số tiền Công ty đã thu của hộ ông bà T5 - Thư theo thỏa thuận như đã trình bày ở trên, cụ thể là:
- Năm 2011, 2012 = 3.180.800 đồng
- Năm 2013 = 1.600.200 đồng
- Năm 2014, 2015, 2016 = 4.800.600 đồng
- Năm 2017 = 1.131.610 đồng (Trong đó gồm số nộp thừa năm 2016 chuyển sang là: 468.000 đồng và nộp thêm là: 663.600 đồng)
- Năm 2018 = 1.131.600 đồng
- Năm 2019 = 1.131.600 đồng
- Năm 2020 = 1.131.600 đồng
- => Tổng bà T đã nộp là: 14.000.000 đồng (làm tròn)
Việc người mượn đất Công ty ở nhờ phải nộp một khoản tiền/năm như trên, không chỉ riêng hộ ông T5 mà các hộ khác mượn đất cũng đều như vậy. Công ty đã hạch toán chung và đã nộp vào tiền thuê đất của Công ty phải nộp cho Nhà nước hàng năm.
Công ty không tranh chấp đất với bà T. Không đồng ý với yêu cầu của bị đơn đề nghị đưa các cơ quan trên vào tham gia tố tụng. Không chấp nhận bất cứ yêu cầu nào của phía bà T đưa ra.
2. Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị T và người đại diện theo ủy quyền có “Đơn phản tố” và trình bày:
Gia đình bà T sử dụng, quản lý, xây dựng nhà ở trên khu đất Công ty đang đòi, từ năm 1997, sử dụng liên tục, công khai, không gây mất trật tự an ninh, tranh chấp với ai. Không có văn bản hành chính nào ngăn chặn việc bà T xây nhà. Đã phải nộp thuế đất ở từ năm 2010, đóng liên tục, không có ai có ý kiến tranh chấp hay yêu cầu trả lại đất cho nhà nước. Đất từ năm 1997 là đất thuộc sở hữu Nhà nước. Bà T có đăng ký hộ khẩu ở trên đất đó và đóng góp đầy đủ các loại phí với tổ dân phố, xã, phường, các cấp Nhà nước trong quá trình sinh sống trên đất từ năm 1997 cho đến 2024. Bị đơn đề nghị Tòa án:
- - “Bác đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn”
- - Công nhận và giao quyền quản lý đất ở cho gia đình bà T
- - UBND tỉnh H thu hồi một phần giấy chứng nhận QSD đất của nguyên đơn (Vào phần đất bà T đang sử dụng) và đề nghị Tòa án kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, chỉnh lý biến động, tách phần đất bà T đang sử dụng ra khỏi Giấy chứng nhận QSD đất Công ty.
Bị đơn cho rằng: việc Công ty cho ông T5 mượn đất từ năm 1997 khi ấy là đất thuộc sở hữu Nhà nước; nay Công ty là Công ty cổ phần thuộc sở hữu tư nhân, không có quyền đòi lại đất thuộc sở hữu Nhà nước. Mặt khác nguyên đơn còn “thu thuế đất trái phép” (từ hộ bà T). Đất giao trái thẩm quyền cho bà Thư từ năm 1997 nhưng phù hợp với quy hoạch, không có thông báo, quyết định thu hồi đất nào.
Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra còn yêu cầu nguyên đơn phải trả cho bị đơn bà T số tiền 530.000.000 đồng (Trong đó 30.000.000 đồng là tiền nguyên đơn “thu thuế đất trái phép” và 500.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần, vật chất do bị “thu thuế đất trái phép” gây ra).
3. Những nội dung đã thống nhất, không thống nhất:
*/ Nội dung thống nhất:
- - Nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận “Đơn xin mượn đất”, đứng tên ông Nguyễn Đức T5, có xác nhận của Công đoàn Công ty ngày 15/01/1997 và xác nhận của lãnh đạo Công ty ngày 23/01/1997.
*/ Nội dung không thống nhất:
- - Nguyên đơn Công ty CP T khẳng định: Công ty cho ông T5 mượn đất để làm nhà tạm trong thời gian công tác, không phải là cấp đất, giao đất cho ông T5. Khoản tiền thu từ ông bà T5 - T là số tiền Công ty nộp vào tiền thuê đất hàng năm Công ty phải nộp cho Nhà nước. Đây là khoản tiền do hai bên thỏa thuận, người mượn đất ở thì phải nộp. Các thông báo và phiếu thu ghi vậy là do cách viết của kế toán Công ty, không phải là “thuế đất” theo Luật đất đai. Công ty yêu cầu bà T và các thành viên khác đang ở cùng bà T phải trả lại đất đã mượn cho Công ty sử dụng kinh doanh sản xuất. Công ty không chấp nhận trả cho bà T bất kỳ khoản tiền nào.
- - Bị đơn không đồng ý với việc Công ty đòi đất mà không trả tiền cho bà T (với số tiền là 530.000.000 đồng gồm tiền Công ty “thu thuế đất trái phép” và tổn thất vật chất, tinh thần khác). Yêu cầu Tòa án xác định đất là của bà T có quyền sử dụng, yêu cầu Tòa án kiến nghị thu hồi một phần giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho Công ty CP T vào phần đất hiện trạng bà T đang sử dụng. Vì đất bà T đã nộp thuế, sử dụng công khai, liên tục từ 1997 đến nay. Không có cơ quan Nhà nước nào ra quyết định, thông báo thu hồi đất.
4. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Tham gia tố tụng về phía bà T: đồng ý với yêu cầu của bà T.
UBND tỉnh H và Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh H có quan điểm: Yêu cầu của bà T về việc xác định đất là của bà T và đề nghị Tòa án kiến nghị thu hồi một phần Giấy chứng nhận QSD đất cấp cho Công ty CP T là không có cơ sở chấp nhận.
Cục Thuế tỉnh H có văn bản xác nhận: Công ty CP T đã hoàn đủ thuế và tiền thuê đất, trong đó có khoản tiền thu của một số hộ dân mà Công ty cho mượn đất ở nhờ và Công ty đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) theo quy định pháp luật.
Sở Giao thông vận tải tỉnh H có ý kiến: trước đây Xí nghiệp K1 trực thuộc Sở G. Nhưng từ khi cổ phần hóa thì hoạt động độc lập. Việc tranh chấp giữa Công ty CP T và bà T không liên quan đến trách nhiệm Sở giao thông vận tải tỉnh H.
Các cơ quan này đều có ý kiến không tham gia tố tụng tại Tòa án.
*/ Vụ án đã tiến hành thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản có tranh chấp (Có biên bản lưu hồ sơ vụ án).
5. Tại phiên tòa:
Các bên đương sự có mặt tranh luận vẫn giữ nguyên ý kiến nêu trên.
- - Nguyên đơn trình bày thêm: Nguyên đơn không đồng ý hỗ trợ khoản tiền chi phí di dời nào.
- - Bị đơn trình bày thêm: Bị đơn cũng không có nhu cầu nhận tiền hỗ trợ chi phí di dời của nguyên đơn. Yêu cầu Tòa án cứ giải quyết theo đúng phản tố của bị đơn.
6. Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng của vụ án đã bảo đảm đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (TTDS).
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng quy định tại các điều 163, 164, 166, 688 – Bộ luật dân sự (BLDS) 2015; Điều 166 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Việc Công ty cho hộ ông bà T5 - Thư mượn đất là thể hiện sự quan tâm của Công đoàn Công ty đến đời sống cán bộ, nhân viên; Công ty không hưởng lợi gì từ việc cho mượn đất, đến nay Công ty có nhu cầu sử dụng là chính đáng; đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: buộc bà Nguyễn Thị T cùng các thành viên hộ gia đình đang ở trên đất phải ra khỏi và di dời, tháo dỡ, phá bỏ toàn bộ tài sản, nhà ở, kiến trúc khác trên diện tích đất mượn của Công ty. Trả lại mặt bằng quyền sử dụng đất đã mượn như hiện trạng ban đầu theo đúng thỏa thuận cam kết trong “Đơn xin mượn đất”.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn;
Về án phí và chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST); đối với chi phí tố tụng nguyên đơn tự nguyện chi trả thì cần chấp nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Về thẩm quyền: đây là tranh chấp về giao dịch dân sự quy định tại khoản 2, Khoản 9 Điều 26 và Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 - Bộ luật TTDS. Địa chỉ trụ sở của nguyên đơn, nơi cư trú của bị đơn và tài sản tranh chấp đều ở TP H, tỉnh Hòa Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP Hòa Bình.
Về thời hiệu: đây là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản (cụ thể là quyền sử dụng đất cho mượn ở tạm, ở nhờ) nên vụ án không tính thời hiệu khởi kiện theo quy định Khoản 3 Điều 155 - BLDS 2015 và Điều 185 - Bộ Luật TTDS 2015.
Phạm vi khởi kiện: Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định Điều 5 của Bộ luật TTDS; đồng thời xem xét, giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn theo quy định Điều 200, 202 của Bộ luật TTDS.
Việc giải quyết, xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đối với bà Phạm Thị C (mẹ đẻ của ông Nguyễn Đức T5), chị Nguyễn Thị Thùy T2 (Con gái ông bà T5 – T), Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến tham gia tố tụng. Theo bà T trình bày là do chị T2 có con nhỏ, đi lấy chồng xa ở Thái Nguyên nên không thể về tham gia tố tụng tại Tòa án được. Bà C không ở cùng với nhà bà T.
Các cơ quan, đơn vị bị đơn đề nghị Tòa án đưa vào tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có văn bản đề nghị vắng mặt.
Để bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự, Tòa án đã hoãn phiên tòa lần 1 được triệu tập vào ngày 23/9/2024. Như vậy, phiên tòa ngày hôm nay xét xử vắng mặt các đương sự như nêu trên là phù hợp với quy định Khoản 1, Đ1 b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật TTDS.
[2]. Về nội dung vụ án:
2.1. Xét khởi kiện của nguyên đơn
(1) HĐXX nhận thấy, căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự và ý kiến của Sở Giao thông vận tải, Sở Tài nguyên & Môi trường, UBND phường D, thấy rằng: Công ty CP T được thành lập đã lâu, trước thời điểm năm 1990; trước khi trở thành Công ty CP, có tên là Xí nghiệp K1; có trụ sở tại: tổ B, phường C (cũ), nay là tổ A, phường D, TP H. Không có thay đổi về địa điểm trụ sở cho đến thời điểm hiện tại. Đã được UBND tỉnh cấp Giấy chứng nhận QSD đất số: BA668 447, số vào sổ: CT00279, ngày 22/6/2011; thửa đất 55,56, Bản đồ 26 (trước đây thể hiện trong sổ mục kê của phường D là thửa 29, bản đồ 26). Cùng với sự thay đổi về cơ cấu, tổ chức; Công ty CP T đến nay được UBND tỉnh H ký “Hợp đồng cho thuê đất” số 61/HĐTĐ ngày 02/8/2016, diện tích 3.847,0m², đến năm 2050, trả tiền thuê đất hàng năm, mục đích xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở kinh doanh. Ranh giới, mốc giới bao quanh sử dụng ổn định không có tranh chấp với cá nhân, tổ chức nào. Văn bản số 4186/STNMT – TTr ngày 20/9/2024 của Sở Tài nguyên & Môi trường (Đồng thời đại diện theo ủy quyền của UBND Tỉnh) khẳng định quyền sử dụng đất của Công ty CP T là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật đất đai.
(2) Căn cứ vào “Đơn xin mượn đất” do nguyên đơn và bị đơn đều cung cấp, có xác nhận của công đoàn và lãnh đạo Công ty thấy rằng: trong “Đơn xin mượn đất” ông T5 trình bày hoàn cảnh gia đình có vợ là Nguyễn Thị T, có 1 con 7 tuổi, điều kiện khó khăn, chưa có đất làm nhà riêng, vẫn phải ở chung với bố mẹ, sinh hoạt hàng ngày trở nên khó khăn, ảnh hưởng đến quá trình công tác; ông T5 xin mượn đất cơ quan làm nhà ở tạm, khi cơ quan cần sẽ trả lại. Đơn có xác nhận của Công đoàn và Lãnh đạo đơn vị. Đến năm 2010, ông T5 chuyển nơi làm việc khác không còn là cán bộ, nhân viên Công ty nữa. Như vậy có thể hiểu, đến thời điểm này về thời hạn trong mối quan hệ cho mượn đất làm nhà tạm giữa Công ty và ông T5 được coi là đã “hết thời hạn mượn đất”. Việc Công ty cho mượn đất làm nhà ở tạm không làm phát sinh quyền của người sử dụng đất với gia đình ông T5.
(3) Trong suốt thời gian 13 năm cho “Mượn đất làm nhà tạm” Công ty không có thu một khoản tiền nào từ hộ ông bà T5 - Thư. Từ năm 2011 trở đi, ông T5 không là người cơ quan nữa, nhưng do nguyện vọng vẫn ở trên đất Công ty, theo thỏa thuận hai bên, ông bà T5 - Thư nhất trí nộp khoản tiền tính tương đương trên phần đất mượn để Công ty nộp vào thuê đất hàng năm, hiện tại Công ty đã nộp đủ, đã xuất hóa đơn GTGT, Công ty không thụ hưởng, hưởng lợi khoản tiền thu từ hộ ông bà T5 - Thư. Bản thân bà T cũng xác nhận đất bà T đang ở có nguồn gốc là mượn của cơ quan bên chồng (Công ty T nay là Công ty CP T). Kết quả xem xét, thẩm định của Tòa án, kiểm tra đo đạc bản đồ địa chính của cơ quan chuyên môn, xác minh ở chính quyền địa phương xác định phần đất bà T đang tranh chấp nằm trong diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Công ty. Phía Công ty còn cung cấp những tài liệu chứng minh, ngoài hộ ông bà T5 -Thư, còn có các hộ khác mượn đất cùng thời điểm những năm 1995 – 1997 như: hộ ông Nguyễn Văn T6, ông Nguyễn Phan B, khi Công ty có nhu cầu sử dụng thì các hộ này đều đã chấp hành trả lại đất mượn và chuyển nơi khác sinh sống không có thắc mắc gì.
(4) Việc gia đình ông T5 trong lúc hoàn cảnh khó khăn, được Công đoàn và Lãnh đạo cơ quan xét duyệt cho mượn đất làm nhà tạm “Trong thời gian công tác”, khi cơ quan có yêu cầu sử dụng ông T5 phải trao trả số đất đã mượn” là sự thực khách quan được ghi nhận bằng văn bản. Không phải việc cơ quan giao đất cho gia đình ông T5 và theo pháp luật cơ quan cũng không có thẩm quyền giao đất. Nay Công ty có nhu cầu sử dụng, đòi lại đất đã cho mượn thì gia đình ông T5 phải có nghĩa vụ di dời tài sản, con người trên đất mượn để trả lại mặt bằng đất Công ty. Không thể buộc Công ty chịu trách nhiệm về việc phải bồi thường, hoàn trả chi phí xây dựng của ông bà T5 - T trong thời gian mượn đất làm nhà tạm. Việc ông bà T5 - T làm nhà tạm như thế nào cũng là do nhu cầu sử dụng cá nhân của ông bà T5 - Thư, không liên quan đến Công ty và không được Công ty T7. Căn cứ vào nội dung “Đơn xin mượn đất”, cam kết của ông T5, phạm vi phê duyệt của Công ty khi cho mượn đất thì ông bà T5 - T được coi là “Buộc phải biết” việc “làm nhà tạm” là làm như thế nào và hậu quả của việc “làm nhà tạm” trên đất mượn của chủ sử dụng đất.
(5) Đối chiếu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy phù hợp với quy định pháp luật:
Pháp luật tại thời điểm nguyên đơn cho mượn đất, Khoản 1 Điều 3 Luật Đất đai 1993 quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sử dụng đất”. Khoản 10 Điều 12 Luật đất đai 2013 quy định: “Nghiêm cấm việc cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật...”; Ngoài ra, Điều 166 - Luật đất đai 2013 quy định về “Quyền chung của người sử dụng đất”:
“5. Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình...”;
Điều 163 - BLDS 2015 về Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản:
“1. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản...”
Điều 164 - BLDS 2015 về “Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản":
“1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.
2. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản...”.
Điều 166 - BLDS 2015 về quyền đòi lại tài sản:
“1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”.
Điều 169 - BLDS 2015 quy định về “Quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản”:
“Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm”.
2.2. Về yêu cầu phản tố của bị đơn
(1) Bị đơn xác nhận có việc gia đình bị đơn mượn đất của nguyên đơn nhưng lại có những yêu cầu phản tố như đã nêu trên, đồng thời xuất trình các tài liệu, chứng cứ về các hóa đơn điện, nước, biên lai nộp tiền “thuế đất”, văn bản trả lời của cơ quan Thuế; HĐXX thấy nguồn gốc đất bà T đang ở là do phía nguyên đơn cho mượn làm nhà tạm (Có văn bản chứng minh rõ ràng); các văn bản, tài liệu, chứng cứ bị đơn xuất trình chỉ thể hiện đời sống sinh hoạt chi phí điện nước của bị đơn - không được coi là “Các loại giấy tờ khác” được quy định tại Điều 100 - Luật Đất đai 2013 để xác định “quyền sử dụng” và cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ bà T. Tại phiên tòa, bị đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn khẳng định là “có mượn đất”.
(2) Số tiền gia đình bà T đã nộp là 14.000.000 đồng (làm tròn), không có tài liệu thể hiện là 30.000.000 đồng như trình bày của bị đơn. Khoản tiền này bà T nộp cho Công ty, Công ty sử dụng trả tiền thuê đất hàng năm đối với Nhà nước như đã phân tích ở phần trên - đây là thỏa thuận dân sự giữa Công ty và các hộ mượn đất làm nhà tạm (ở nhờ) trong đó có hộ bà T. HĐXX không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bị đơn.
(3) Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Bà T cũng không chứng minh được về tổn thất tinh thần, vật chất gì là thực tế.
Điều 91 – Bộ luật TTDS quy định:
“1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp...
2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Nhận định, phân tích, đánh giá và viện dẫn Điều luật của Đại diện VKSND tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật.
Ý kiến các Cơ quan không tham gia tố tụng nêu trên là phù hợp.
HĐXX thấy không có căn cứ để chấp nhận các yêu cầu phản tố của bà T. Ý kiến anh T3 đồng quan điểm bà T cũng không có căn cứ chấp nhận. Việc bà T cùng thành viên hộ gia đình đang ở trên đất mượn của Công ty mà không chịu di dời khi Công ty đòi lại tài sản là hành vi cản trở quyền của người sử dụng đất hợp pháp và không được pháp luật bảo hộ.
Với các nội dung đánh giá chứng cứ, lập luận và đối chiếu các quy định pháp luật như nêu trên, HĐXX thấy có căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo đó, cần buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T cùng thành viên gia đình đang ở trên hiện trạng đất mượn của nguyên đơn phải ra khỏi và tháo dỡ, phá bỏ, di dời toàn bộ tài sản, kiến trúc khác để trả lại nguyên trạng mặt bằng đất cho Công ty CP T (thực trạng tại “Đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính số 03 – 2024 có trong hồ sơ vụ án).
[3]. Về án phí DSST, chi phí tố tụng:
- - Án phí DSST: Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí. Bị đơn không được cấp nhận yêu cầu phản tố nên phải chịu toàn bộ án phí DSST (Trong đó có phần án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu đòi đất cho mượn ở tạm ở nhờ và án phí có giá ngạch đối với khoản tiền là: 530.000.000đ - bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải chi trả cho bị đơn nhưng không được Tòa án chấp nhận).
- - Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp tạm ứng: 3.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, chi phí tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản hết 2.052.964 đồng. Khoản tiền tạm ứng chi phí tố tụng còn thừa 947.036 đồng, nguyên đơn đã nhận lại đủ. Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng - không trái với quy định Điều 157 và Điều 164 của Bộ luật TTDS nên cần chấp nhận.
Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định Điều 271, 273 – Bộ luật TTDS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 5; Khoản 2, Khoản 9 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 - Bộ luật TTDS; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 157; Khoản 1 Điều 165; Khoản 1 Điều 166; 185; Điều 200, 202; Khoản 1, Đ1 b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, 273 - Bộ Luật TTDS 2015;
Khoản 1 Điều 3 Luật Đất đai 1993;
Khoản 10 Điều 12 Luật đất đai 2013; Điều 100, 166 của Luật Đất đai 2013;
Khoản 3 Điều 155, Khoản 1 Điều 163; Khoản 1 Điều 164, 169; Điều 688 - BLDS 2015;
Khoản 2 Điều 26 - Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần T. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị T.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T cùng thành viên gia đình đang ở trên hiện trạng đất mượn của nguyên đơn phải ra khỏi và di dời, tháo dỡ, phá bỏ toàn bộ tài sản, kiến trúc khác trả lại nguyên trạng mặt bằng đất cho Công ty CP T (thực trạng tại “Đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính số 03 – 2024 có trong hồ sơ vụ án). Thuộc thửa 55, 56 (trước đây là thửa 29) tờ Bản đồ 26, tổ B, phường C (cũ), nay là tổ A, phường D, TP H, tỉnh Hòa Bình.
- Về án phí DSST và chi phí tố tụng:
- - Về án phí DSST: Nguyên đơn không phải chịu án phí DSST và được hoàn trả 300.000 đồng tạm ứng án phí DSST đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0000131 ngày 22/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí DSST (phần không có giá ngạch) và 25.200.000 đồng án phí DSST (Phần yêu cầu phản tố có giá ngạch). Tổng số tiền án phí DSST bà T phải nộp là: 25.500.000 đồng. Được khấu trừ vào: 12.900.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự TP Hòa Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000261; số tiền án phí bà T còn phải nộp tiếp là: 12.600.000 đồng.
- - Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá hết 2.052.964 đồng, xác nhận đã nộp đủ và đã nhận lại số tiền thừa.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo xét xử theo trình tự phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo tương tự về những nội dung trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình và thời hạn kháng cáo được tính từ ngày được cấp/tống đạt hợp lệ Bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đinh Lan Hương (đã ký) |
Bản án số 17/2024/DS-ST ngày 01/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về đòi lại tài sản, quyền sử dụng đất cho mượn
- Số bản án: 17/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản, quyền sử dụng đất cho mượn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp tài sản (đòi đất cho mượn)
