Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK GLEI

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HS-ST

Ngày: 25 - 12 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLEI - TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Tài;

Các hội thẩm nhân dân: Ông A Hao và Bà Y Hương

Thư ký ghi phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glei;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glei tham gia phiên toà: Ông Khuất Thế Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Đắk Glei xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2023/TLST-HS ngày 07/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:18/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Xiêng V; Tên gọi khác: không; sinh ngày, Sinh ngày: 12/4/1998 tại Kon Tum; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Gié - Triêng; Tôn giáo: Không; CCCD SỐ: [...]; cấp ngày: 06 tháng 12 năm 2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Xiêng V; sinh năm: 1963 (Đã chết); Mẹ: Y Vi L; sinh năm: 1963 (Đã chết). Bị cáo chưa có vợ.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân : Tốt;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 02/11/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Cháu Y H, Sinh ngày: 04/11/2006. Trú tại: Thôn Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Đại diện cho bị hại là Anh A H1, sinh 1976 (Bố đẻ của cháu H)

Trú tại: Thôn Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh A H1, sinh 1976. Trú tại: Thôn Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng: Chị Y T, sinh 1981; A, sinh 2002. Đều trú tại thôn Đ, thị trâns Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 02/11/2023, bị cáo Xiêng Var X (Sinh ngày: 12/4/1998; trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum) đón xe khách từ xã Đ, huyện N đến thị trấn Đ, huyện Đ; khi đến thị trấn Đ, X đi bộ đến nhà ông A H1 (Sinh năm: 1976; trú tại: Thôn Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum – là chú họ của X) chơi. Khi đến nhà ông A H1, X thấy cửa cổng mở nên đi vào sân đứng gọi nhưng không thấy ai trả lời. Sau đó, X đi đến căn phòng tiếp giáp nhà bếp nhìn vào trong thấy bà Y T1 (Là mẹ của A H1) đang nằm ngủ, nên X đi lên phòng khách ngồi chờ. Trong lúc ngồi chờ, X nhìn vào phòng ngủ bên cạnh thì thấy 01(Một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng của Y H (là con gái của A H1), đang sạc pin để trên bàn học nên nảy sinh ý định lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. X đi đến chỗ để chiếc điện thoại rồi dùng tay phải rút dây sạc, bỏ chiếc điện thoại vào túi quần Jeans bên trái mà X đang mặc rồi đi bộ đến hồ Đ (thuộc thôn Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) tìm cách mở khóa (mở mật khẩu) để tắt nguồn nhưng không được. Sau đó, X đi bộ đến nhà chị Y T (Sinh năm: 1981, cư trú tại: Thôn Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) thì gặp A T2 (Sinh năm: 2002; là con chị Y T), X xin nước uống và trốn ở đây do sợ bị phát hiện. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi X đang đi từ nhà chị Y T ra để đón xe về huyện N thì bị tổ công tác của Công an huyện Đ kiểm tra, phát hiện trong túi quần jean bên trái mà X đang mặc có 01(Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, nghi đây là chiếc điện thoại của Y H đã bị mất trước đó nên tổ công tác đã đưa X về trụ sở làm việc; tại đây, X khai nhận hành vi trộm cắp chiếc điện thoại trên của chị Y H.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 06/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị của 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số máy MT732CH/A, số sê ri F2LX8926KPJ22E2C2621 là 5.000.000đồng (Năm triệu đồng).

Bản cáo trạng số: 01/CT-VKS-ĐL ngày 06/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glei đã truy tố bị cáo Xiêng Var X về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glei vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự đề nghị:

Xử phạt: Xiêng Var Xiêm từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu, nên đề nghị HĐXX không xem xét. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Lời nói sau cùng của bị cáo Xiêng Var X: Do nhận thức kém về pháp luật nên đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại di động của Y H. Bị cáo đã nhận thức được việc làm sai trái của mình, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glei, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; những người tham gia tố tụng trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi cấu thành tội phạm: Quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo Xiêng Var X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tình tiết khách quan đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thu thập có tại hồ sơ vụ án, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo đã được mô tả tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKS-ĐL ngày 06/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glei thể hiện: Vào khoảng 07 giờ ngày 02/11/2023, bị cáo Xiêng Var X đón xe khách từ xã Đ, huyện N đến huyện Đ, vào nhà anh A H1 (Sinh năm: 1976; Địa chỉ: Thôn Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum – là chú họ của X) chơi. Khi đến nhà anh A H1 thấy cháu Y H để chiếc điên thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số máy MT732CH/A, số sê ri F2LX8926KPJ22E2C2621 sạc pin ở bàn học, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý

tài sản của gia đình anh H1 và cháu Y H, Xiêng Var X, đã lén lút đến vị trí để điện thoại rồi lấy trộm chiếc điện thoại di động của cháu Y H.

Kết luận định giá tài sản số:10/KL-HĐĐGTS ngày 06/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị của 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số máy MT732CH/A, số sê ri F2LX8926KPJ22E2C2621 là 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, người bị hại xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h,i,s, khoản1, khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy HĐXX thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, do vậy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà vẫn đảm bảo răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra người bị hại cháu Y H đã nhận lại tài sản là chiếc điện thoại di động của mình và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác, trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Người bị hại, Đại diện cho bị hại cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra xác định chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu IphoneXSMax,màu vàng, số máy MT732CH/A, số sê ri F2LX8926KPJ22E2C2621 thuộc sở hữu hợp pháp của cháu Y H, ngày 07/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho cháu H quản lý, sử dụng đúng theo quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Đối với A T2: Quá trình điều tra xác định, thời điểm X đến nhà xin nước uống và trốn tại nhà A T2 thì A T2 hoàn toàn không biết việc X đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trước đó. Do đó không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với A T2.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65 của Bộ luật hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Xiêng V Xiêm phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Xiêng V Xiêm 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/12/2023)

Giao cho UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo Xiêng Var X trong thời gian thử thách.

Áp dụng khoản 5 Điều 65 BLHS. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21; Điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Q và kèm theo danh mục mức án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Xiêng Var X phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm

Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/12/2023). Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - Bị hại, người có QLNVLQ
  • - VKSND huyện Đăk Glei
  • - VKS ND tỉnh Kon Tum
  • - TAND tỉnh Kon Tum
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng
  • - Sơ tư pháp tỉnh Kon Tum
  • - CA huyện Đăk Glei
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • -Chi cục THA huyện Đắk Glei.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đình Tài

Các hội thẩm nhân dân

A Hao

Y Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLEI - TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 17/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLEI - TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 07 giờ ngày 02/11/2023, bị cáo Xiêng Var X đón xe khách từ xã Đ, huyện N đến huyện Đ, vào nhà anh A H1 (Sinh năm: 1976; Địa chỉ: Thôn Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum – là chú họ của X) chơi. Khi đến nhà anh A H1 thấy cháu Y H để chiếc điên thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số máy MT732CH/A, số sê ri F2LX8926KPJ22E2C2621 sạc pin ở bàn học, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình anh H1 và cháu Y H, Xiêng Var X, đã lén lút đến vị trí để điện thoại rồi lấy trộm chiếc điện thoại di động của cháu Y H.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger