|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 17/2021/HNGĐ-ST Ngày: 21-6- 2021 V/v ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ung Thị Ngọc Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Xuân Đính
- Ông Nguyễn Việt Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Vi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Chiều - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2021 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đinh S, sinh năm 1974 (vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ 2, ấp 1, M, huyện C, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 7 năm 2020, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đinh S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà S và ông Nguyễn Văn S1 chung sống với nhau vào năm 1993 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Sông Bé (nay là huyện C, tỉnh Bình Phước). Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Về việc đăng ký kết hôn bà S chỉ nhớ có đến Ủy ban nhân dân xã M làm thủ tục nhưng chưa được nhận giấy và chưa nhìn thấy giấy chứng nhận kết hôn khi nào. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, hôn nhân không hòa hợp. Ông S1 thường hay nhậu nhẹt về kiếm chuyện gây gổ vô cớ dẫn đến vợ chồng cải vã, xô xát nhau. Nhiều lúc bà S bỏ ra ngủ nhờ nhà người khác, gần tết năm 2021 ông S1 đánh đập bà nên bà bỏ đi ở nhờ nhà người khác đến 20 ngày, sau đó bà S trở về vì ông S1 cam kết không đánh chửi nhưng tới nay vẫn không thay đổi. Nay bà S nhận thấy cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông S1.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bích S3 sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Diễm M sinh năm 1999, hiện các đã trưởng thành nên bà S không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về nuôi dưỡng, cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà S không yêu cầu tòa giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn S1 đã được Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng ông S1 vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông S1 được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn: Bà Đinh S xin xét xử vắng mặt không cung cấp, bổ sung thêm chứng cứ tài liệu nào khác.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S1 vắng mặt không lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành phát biểu ý kiến:
- Việc chấp hành theo quy định pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Quan điểm về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX tuyên bố không công nhận bà S, ông S1 là vợ chồng do không có đăng ký kết hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
{1} Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn bà Đinh S, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc Ly hôn theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành.
{2} Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh S, Hội đồng xét xử xét thấy:
{2.1} Về quan hệ hôn nhân: Bà S và ông S1 chung sống từ năm 1993 nhưng không cung cấp được giấy chứng nhận kết hôn. Kết quả xác minh tại địa phương không có hồ sơ lưu trữ việc đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên bố không công nhận bà Đinh S và ông Nguyễn Văn S1 là vợ chồng.
{2.2} Về nuôi con chung: Các con đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
{2.3} Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
{2.4} Về án phí: Nguyên đơn bà S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 14, 51, 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
- Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Đinh S và ông Nguyễn Văn S1 là vợ chồng.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Đinh S phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002640 ngày 22/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chơn Thành.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án theo đúng quy định pháp luật.
|
Nơi nhận: - VKSND huyện Chơn Thành; - Chi cục THADS huyện Chơn Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ung Thị Ngọc Thanh |
Bản án số 17/2021/HNGĐ-ST ngày 21/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về ly hôn
- Số bản án: 17/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hon
