|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 17/2021/HNGĐ-PT Ngày: 16-3-2021 V/v tranh chấp: “Chia tài sản chung sau ly hôn và Đòi lại tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _______________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Thủy.
Các Thẩm phán: + Bà Lâm Ngọc Tuyền.
+ Ông Nguyễn Thanh Triều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2021/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2021 về tranh chấp “Chia tài sản chung sau ly hôn và Đòi lại tài sản”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 606/2020/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 643/2021/QĐ-PT ngày 27 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị N, sinh năm 1967 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp M, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh T1 – Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Anh T1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1965 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp M, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Võ Tuấn Vĩnh T2 – Luật sư Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Vĩnh T2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn D, sinh năm 1986 (xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp M, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Đặng Diệp Tố T3, sinh năm 1987 (xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp M, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Nguyễn K, sinh năm 1999 (xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp M, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Đỗ Thị T4, sinh năm 1931 (xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Nguyễn Thị T5, sinh năm 1957 (có mặt); Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn – bà Đặng Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo án sơ thẩm:
- Nguyên đơn – bà Đặng Thị N trình bày:
Bà và ông T là vợ chồng đã ly hôn theo Quyết định giải quyết việc hôn nhân và gia đình số 585/2015/QĐST-VHNGĐ ngày 19/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang. Theo đó, phần tài sản chung, vợ chồng bà tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay bà và ông T không tự thỏa thuận được với nhau nên yêu cầu chia tài sản chung cụ thể như sau:
- Nhà ở diện tích 99,14m², tọa lạc tại ấp M, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang (thuộc thửa đất 676).
- Nhà phụ liên kế nhà chính diện tích 24,2m²; Chuồng heo diện tích 10m²; Hàng rào cột bê tông đúc sẵn lưới B40 diện tích 19,8m²; Lối đi xi măng diện tích 20m²; Mái che (trên thửa 671) diện tích 30m²; toàn bộ cây trồng trên đất.
- Tài sản trong nhà: 01 chiếc đi văng, 01 tủ áo 01 mặt kiếng, 01 tủ ly gỗ gõ đỏ cửa kính lùa.
- Tài sản khác gồm: 07,5 chỉ vàng 24Kr do ông Nguyễn Chí T đang cất giữ và 06 chỉ vàng 18Kr do bà N đang cất giữ; 01 xe Honda Future biển số 63B3-18406.
Bà N yêu cầu chia đôi tài sản chung của vợ chồng, yêu cầu nhận hiện vật sẽ hoàn lại giá trị cho ông T, tài sản còn lại yêu cầu nhận giá trị. Sau khi chia tài sản chung, phần chênh lệch sẽ bù trừ bằng giá trị.
- Bị đơn – ông Nguyễn Chí T trình bày:
Về phần tài sản chung, ông thống nhất với lời trình bày của bà N và đồng ý chia theo như yêu cầu của bà N. Riêng đối với thửa đất 676 và thửa đất số 93 là tài sản riêng của ông, là đất hương quả do mẹ ông tặng cho riêng ông nên ông không đồng ý chia, ông chỉ đồng ý chia tài sản trên đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Nguyễn D, chị Đặng Diệp Tố T3, anh Nguyễn K, bà Đỗ Thị T4 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
[2]. Về nội dung kháng cáo, xét thấy: Theo lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Đặng Thị N và ông Nguyễn Chí T kết hôn ngày 12/7/1985. Quá trình chung sống, vợ chồng có tạo lập được một số tài sản chung...
Xét thấy việc xác định hai thửa đất nêu trên là tài sản chung hay tài sản riêng phải căn cứ vào quy định của pháp luật về chế độ sở hữu tài sản ở thời điểm tạo lập, hình thành tài sản và thời điểm kết hôn. Theo các chứng cứ thu thập, ông T và bà N kết hôn năm 1985, sau khi kết hôn được cha mẹ ông T cho đất và ra ở riêng. Mặc dù Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên cá nhân ông T, nhưng cả hai đều thừa nhận vợ chồng cùng quản lý, sử dụng hai thửa đất này liên tục, ổn định từ năm 1985 đến nay. Do đó có đủ cơ sở để xác định hai thửa đất này là tài sản chung của vợ chồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309, khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; các điều 166, 357, và Điều 468 Bộ luật Dân sự; Căn cứ các Điều 26, 27, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
1/- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Đặng Thị N.
Sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 606/2020/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Xử:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị N về việc chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn.
1.2. Chia cho bà Đặng Thị N được quyền sở hữu, sử dụng các tài sản sau:
- Thửa đất số 671, tờ bản đồ địa chính số 1, diện tích 1703,9m², loại đất trồng cây lâu năm tại ấp M, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang và cây trồng gắn liền với đất.
- Thửa đất số 676, tờ bản đồ địa chính số 1, diện tích 2.182,9m², loại đất trồng cây lâu năm tại ấp M, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang và cây trồng gắn liền với đất.
- 06 (sáu) chỉ vàng 18Kr hiện do bà Đặng Thị N đang quản lý, sử dụng.
1.3. Chia cho ông Nguyễn Chí T được quyền sở hữu, sử dụng các tài sản sau:
- Thửa 671, tờ bản đồ địa chính số 1, diện tích 1703,9m², loại đất trồng cây lâu năm tại ấp M, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang và cây trồng gắn liền với đất.
- Thửa đất số 676, tờ bản đồ địa chính số 1, diện tích 2.182,8m², loại đất trồng cây lâu năm trong đó có 177,5m² đất ở nông thôn tại ấp M, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang và cây trồng gắn liền với đất.
- Nhà ở gắn liền với thửa đất 676 nêu trên có diện tích 99,14m².
- Thửa đất số 93, tờ bản đồ địa chính số 2, diện tích 291m², loại đất trồng cây lâu năm tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang và cây trồng gắn liền với đất.
- 7,5 (bảy phẩy năm) chỉ vàng 24K hiện do ông T đang quản lý, sử dụng.
- 01 xe Honda hiệu Future biển số 63B3-18406.
1.4. Buộc bà Đặng Thị N có nghĩa vụ hoàn trả giá trị tài sản chênh lệch cho ông Nguyễn Chí T với số tiền là 110.240.800 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện C; - CCTHADS huyện C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Thu Thủy |
Bản án số 17/2021/HNGĐ-PT ngày 16/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về chia tài sản chung sau ly hôn và đòi lại tài sản
- Số bản án: 17/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung sau ly hôn và Đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị N - Nguyễn Chí T - Chia tài sản chung sau khi ly hôn, Đòi lại tài sản
