|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1696/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/6/2025
V/v "Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Bà Nguyễn Thị Lượng
- Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng – kiểm sát viên.
Ngày 26/6/2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2158/TB-TLVA ngày 08/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4087/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/5/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 5066/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ T, sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Đỗ Trọng B, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: 44B đường số B, khu phố L (khu phố I cũ), phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ tạm trú: 157 đường DC7, khu công nghiệp Mỹ Phước 2, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Địa chỉ: D đường số B, khu phố L (khu phố I cũ), phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
(1). Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đỗ Trọng B tự nguyện tìm hiểu, tiến tới hôn nhân vào năm 2018 có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T ngày 14/9/2018. Sau khi tiến tới hôn nhân vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn đó là: Vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, hiện nay hai vợ chồng đã sống ly
thân từ cuối tháng 9/2024 cho đến nay. Nay, bà xác định tình cảm với ông B không còn nên yêu cầu được ly hôn.
- Về con chung: Tên Đỗ Trần Bảo N, sinh ngày 19/9/2020 và Đỗ Trần Bảo N1, sinh ngày 24/4/2023; hiện nay do bà trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; bà T không yêu cầu ông Bằng cấp D nuôi con
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: Không có
(2). Bị đơn ông Đỗ Trọng B (vắng mặt không có lời khai)
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn không chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa theo đúng quy định.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án. Bị đơn ông Đỗ Trọng B cư trú tại địa chỉ số D đường số B, khu phố L (khu phố I cũ), phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nên thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự này theo trình tự sơ thẩm là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; được pháp luật quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp. Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thể hiện; bà Trần Thị Mỹ T yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ Trọng B, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về ly hôn”, là loại tranh chấp được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T có đơn xin xét xử vắng mặt; là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Bị đơn ông Đỗ Trọng B. Đã được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý; giấy triệu tập đương sự; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa. Nhưng ông B không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do, xem như đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông B là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị Mỹ T.
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ trích lục kết hôn (bản sao) số 707/TLKH-BS ngày 23/8/2023 của Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T; thì quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông B là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận; trong quá trình giải quyết vụ án ông B vắng mặt, nên Tòa án không thể làm rõ giữa bà T và ông B có những mâu thuẫn gì, tuy nhiên ông Bằng K đến tòa để giải quyết xem như từ bỏ yêu cầu đoàn tụ gia đình; vì vậy nếu kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông B là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung: Tên Đỗ Trần Bảo N, sinh ngày 19/9/2020 và Đỗ Trần Bảo N1, sinh ngày 24/4/2023; hiên nay do bà T trực tiếp nuôi dưỡng; sau khi ly hôn bà T có nguyện vọng được trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; để không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, nên tiếp tục giao con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với sự phát triển của trẻ.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
- Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
- Về nợ chung: Bà T khai không có, nên không xét.
- Về ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu về việc giải quyết vụ án là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nên được chấp nhận
- Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng bà Trần Thị Mỹ T phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị Mỹ T tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Mỹ T và ông Đỗ Trọng B (giấy chứng nhận kết hôn số 111 ngày 14/9/2018 của Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, TP . không còn giá trị pháp lý).
- - Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) người con chung tên Đỗ Trần Bảo N, sinh ngày 19/9/2020 và Đỗ Trần Bảo N1, sinh ngày 24/4/2023 cho bà Trần Thị Mỹ T được trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết
- - Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết
- - Về nợ chung: Bà T khai không có
- Về án phí dân sự: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng Trần Thị Mỹ T phải chịu, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0043769 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thủ Đức, TP .
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Quyền yêu cầu thi hành án. “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các 6; 7; 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014)”./.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng
|
Nơi nhận:
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Tình |
Bản án số 1696/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1696/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị Mỹ Trang tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể: - Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Mỹ Trang và ông Đỗ Trọng Bằng (giấy chứng nhận kết hôn số 111 ngày 14/9/2018 của Ủy ban nhân dân phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý). - Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) người con chung tên Đỗ Trần Bảo Ngọc, sinh ngày 19/9/2020 và Đỗ Trần Bảo Nghi, sinh ngày 24/4/2023 cho bà Trần Thị Mỹ Trang được trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
