Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1695/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 – 6 - 2025

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hương Thủy

2. Bà Nguyễn Thị Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 26/6/2025 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 221/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4677/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 5693/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Chí V, sinh năm 1978,

Thường trú: Số C Đường A, Khu phố B, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ cư trú: 2 Đường A Khu phố A, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Giả Uyên P, sinh năm 1982,

Thường trú: Số C Đường A, Khu phố B, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ cư trú: 2 Đường A Khu phố A, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông V có mặt, bà P vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn – ông Phạm Chí V trình bày:

Ông và bà Giả Uyên P tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn vào ngày 20/12/2004 tại Ủy ban nhân dân phường C, Quận B nay là thành phố T Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95, quyển số 01/2004. Hai vợ chồng thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông phát hiện bà P tham gia chơi tiền ảo từ năm 2024. Bà P lừa người thân trong nhà để mượn tiền chơi. Bản thân ông đã gánh nợ và trả cho bà P rất nhiều. Bà P bỏ bê không chăm lo gia đình, con cái. Bà P thường xuyên bỏ nhà ra ngoài sinh sống mà ông và các con không rõ ở đâu. Hai bên thường xuyên cãi lộn xung đột với nhau. Ông đã nhiều lần động viên để bà P quay về đoàn tụ nhưng không được. Mâu thuẫn hai vợ chồng không thể dung hòa. Hai vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2025 đến nay. Do đó, ông yêu cầu Tòa giải quyết cho ông được ly hôn với bà P.

Trong quá trình chung sống, hai bên có 02 con chung là Phạm Chí D, sinh ngày 02/10/2005 và Phạm Chí T, sinh ngày 02/3/2013. Con chung Phạm Chí D đã thành niên và tự lập. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Phạm Chí T.

Về mức cấp dưỡng nuôi con: Ông Văn không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn – bà Giả Uyên P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có trình bày tại bản tự khai phiên hòa giải như sau:

Bà xác nhận lời trình bày của ông V về việc chung sống, đăng ký kết hôn và con chung là đúng. Mặc dù, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông V ngoại tình nhưng bà vẫn muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Trường hợp ông V muốn ly hôn, ông V phải bồi thường lại cho bà 1.000.000.000 (một tỷ) đồng là tiền công sức bà đóng góp trong quá trình hôn nhân. Bà xác định đây không phải là yêu cầu phản tố do ông bà không có tài sản chung. Tiền này là quá trình bà chung sống với ông V đóng góp công sức, sinh con cho gia đình ông V. Trường hợp ông V muốn bà đồng ý ly hôn thì phải thực hiện. Bà xác nhận 02 vợ chồng ly thân từ tháng 01/2025 đến nay. Do là ông V chủ động đêm ra ngoài ngủ hoặc tự ngủ chung với con. Trước ngày hòa giải 1 tuần, ông V vẫn muốn gần gũi bà nhưng bà không đồng ý do bà sợ ông V đi ngoại tình mang bệnh về nhà. Bà có cung cấp cho Tòa án hình ảnh ông V chụp chung với người phụ nữ khác sau khi ly thân với bà.

Đối với toàn bộ lời trình bày của ông V về mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, bà không đồng ý. Bà ra ngoài đi làm là do tính chất công việc là giúp việc nhà nên buộc phải ở lại nhà chủ, ngày nghỉ bà mới về nhà. Bà không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông V.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, hai bên có 02 con chung tên là Phạm Chí D, sinh ngày 02/10/2005 và Phạm Chí T, sinh ngày 02/3/2013. Con chung Phạm Chí D đã thành niên và tự lập. Trường hợp Tòa án giải quyết với ông Văn ly H với bà, bà đồng ý theo ý kiến của cháu T. Cháu T muốn ở với ai là tùy ở cháu. Ông V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên bà không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm: Trong quá trình tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng thủ tục tố tụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn – ông Phạm Chí V yêu cầu ly hôn với bị đơn – bà Giả Uyên P và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bà P cư trú tại thành phố T, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn – bà P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định Hoãn phiên tòa. Tuy nhiên bà P vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Do đó, theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà P.

[3] Về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và giải quyết khiếu nại nếu có:

Ngày 20/5/2025, Tòa án tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Các bên đã biết rõ tất cả và không khiếu nại các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, không đề nghị Tòa án thu thập bổ sung chứng cứ, triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác. Đương sự khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình theo quy định tại Điều 6, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định.

[4] Về nội dung:

[4.1] Căn cứ lời khai của các đương sự cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định ông Phạm Chí V và bà Giả Uyên P chung sống và đăng ký kết hôn vào ngày 20/12/2004 tại Ủy ban nhân dân C, Quận B, nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95, quyển số 01/2004. Do đó, hôn nhân giữa ông V và bà P là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Căn cứ lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa có cơ sở xác định: Trong quá trình chung sống ông V và bà P thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Ông V cho rằng bà P thường xuyên gây nợ nần và bỏ bê, không chăm sóc gia đình, con cái. Bà P cho rằng ông V ngoại tình. Cả hai bên xác nhận đã ly thân từ tháng 01/2025 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, các bên không có biện pháp hàn gắn quan hệ hôn nhân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy, hôn nhân giữa ông V và bà P chỉ còn tồn tại về mặt pháp lý, mâu thuẫn giữa các bên trầm trọng, việc duy trì quan hệ hôn nhân không mang lại hạnh phúc cho cả hai, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của ông V là có cơ sở để chấp nhận.

[4.2] Về con chung: Ông V, bà P đều xác nhận trong quá trình hôn nhân, 2 ông bà có 02 con chung là Phạm Chí D, sinh ngày 02/10/2005 và Phạm Chí T, sinh ngày 02/3/2013. Con chung Phạm Chí D đã thành niên và tự lập nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với con chung Phạm Chí T, sinh ngày 02/3/2013: Ông V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T. Tại bản tự khai ngày 30/5/2025, cháu T trình bày nguyện vọng muốn ở với cha. Bà P đồng ý với ý kiến của cháu T về việc cháu ở với cha hay mẹ là tùy cháu. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét việc giao cháu Phạm Chí T cho ông Phạm Chí V trực tiếp chăm sóc, giáo dục là có cơ sở. Ghi nhận sự tự nguyện của ông V không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung.

[4.3] Về tài sản chung: Mặc dù quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Giả Uyên P yêu cầu ông Phạm Chí V nếu muốn ly hôn thì phải hoàn trả cho bà P số tiền 1.000.000.000 đồng. Bà P cho rằng đây là tiền công sức bà đóng góp trong quá trình hôn nhân, sinh con cho gia đình ông V. Tuy nhiên, bà xác định đây không phải là yêu cầu phản tố do bà và ông V không có tài sản chung. Do cả hai bên xác định không có tài sản chung, bà P không có yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết đối với yêu cầu này của bà P.

[4.4] Về nợ chung: Ông V, bà P xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Ông Phạm Chí V có yêu cầu ly hôn nên phải chịu tiền án phí.

[6] Xét ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 220, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – ông Phạm Chí V:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Chí V được ly hôn với bà Giả Uyên P;
  • Quan hệ hôn nhân giữa ông V và bà P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95, quyển số 01/2004, do Ủy ban nhân dân C, Quận B, nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/12/2004 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • - Về con chung: Giao con chung tên Phạm Chí T, sinh ngày 02/3/2013 cho ông Phạm Chí V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
  • Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phạm Chí V không yêu cầu bà Giả Uyên P cấp dưỡng nuôi con.
  • Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên.
  • Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  • Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
  • Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các điều 81, điều 82, điều 83, điều 84 và điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Ông V, bà P xác định không có do đó Tòa án không xem xét.

2. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, ông Phạm Chí V phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0080455 ngày 13/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Ông V đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức;
  • - Chi cục THA DS Tp. Thủ Đức;
  • - TAND TP HCM;
  • - UBND P. Cát Lái, Tp. Thủ Đức,
  • Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu VT và hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1695/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1695/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Chí Văn, Giả Uyên Phương - Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger