|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Số: 1693/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06/5/2024 V/v tranh chấp ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
- Ông Cao Quốc Hưng
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thu Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án của Toà án nhân dân thành phố thủ Đức đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 3022/2023/TLST-HNGĐ ngày 14/12/2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2302/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1968;
- Bị đơn: Ông Lê T1, sinh năm: 1968
Hộ khẩu thường trú: Khu phố F, T, thị xã L, Bình Thuận.
Địa chỉ hiện tại: 9 N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: A đường D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà T có mặt và ông T1 vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà và ông Lê T1 kết hôn năm 1991, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 46, ngày 08/7/1991). Trong thời gian đầu sống chung hạnh phúc nhưng sau đó bà và ông T1 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cách sống của hai bên không hợp nhau, cuộc sống hôn nhân thường phát sinh tranh chấp, thường xuyên cãi vả. Bà đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện nay bà và ông T1 đã không còn sống chung, ly thân từ năm 2010. Nay bà xác định vợ chồng không thể sống chung với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê T1.
Về con chung: Bà và ông T1 có 03 (ba) con chung tên Lê Thị Ngọc T2, sinh ngày 16/01/1992; Lê Thiên T3, sinh ngày 24/12/2002; Lê Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 25/7/2008. Con chung Lê Thị Ngọc T2 và Lê Thiên T3 đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục con chung Lê Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 25/7/2008 và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn – Ông Lê T1 đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T1 vắng mặt, không nêu ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà T có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn ông T1 vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán và Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Lê T1 đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn ông T1.
Về con chung: Giao con chung tên Lê Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 25/7/2008 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa án không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về nội dung:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T yêu cầu được ly hôn ông T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về con chung:
- Về tài sản chung và nợ chung:
Bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn ông Lê T1, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Lê T1 hiện đang cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh tranh chấp của vợ chồng. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm sát việc tuân theo pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Nguyễn Thị T và ông Lê T1 kết hôn năm 1991, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46 cấp ngày 08/7/1991. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình thì hôn nhân của bà T và ông T1 được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Theo lời khai của bà T xác định: Trong quá trình chung sống, trong thời gian đầu sống chung hạnh phúc nhưng sau đó bà và ông T1 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cách sống của hai bên không hợp nhau, cuộc sống hôn nhân thường phát sinh tranh chấp, thường xuyên cãi vả. Bà T đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện nay bà và ông T1 đã không còn sống chung, ly thân từ năm 2010. Xét, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình và có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng thực tế bà T và ông T1 đã sống ly thân, giữa bà T với ông T1 không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà T với ông T1 đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà T về việc xin ly hôn ông T1.
Bà T và ông T1 có ba con chung là Lê Thị Ngọc T2, sinh ngày 16/01/1992; Lê Thiên T3, sinh ngày 24/12/2002; Lê Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 25/7/2008. Con chung Lê Thị Ngọc T2 và Lê Thiên T3 đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục con chung Lê Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 25/7/2008 và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 24/3/2024, trẻ Lê Nguyễn Thiên  sinh ngày 25/7/2008 trình bày nguyện vọng được ở với mẹ nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà T, giao trẻ Lê Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 25/7/2008 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu.
[7]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về giải quyết nội dung vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 9; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
T:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T:
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về con chung:
Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Lê T1.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 46 cấp ngày 08/7/1991 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).
Giao con chung Lê Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 25/7/2008 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí:
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0001405 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thu Phương |
Bản án số 1693/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1693/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
