Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 1690/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/5/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

tranh chấp quyền nuôi con


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng.
  2. Bà Nguyễn Thị Lượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2103/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2023, về việc “Tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1368/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2027/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1995 (Có đơn xin vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Ấp Phước Ninh, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng

Tạm trú: Thôn An Tịnh, xã An Khương, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng

Tạm trú: 1100/8/6 Tỉnh lộ 43, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn bà Hồ Thị H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn H1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 02 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng chứng nhận ngày 02/01/2013.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại địa chỉ: Số A Tỉnh lộ 43, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân xuất phát từ việc ông H1 không chung thủy, không có trách nhiệm trong việc chăm lo cho cuộc sống của gia đình. Hai người không còn sống chung với nhau từ giữa năm 2023 cho đến nay. Nay xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H1.

Về con chung: Bà H và ông H1 có 02 con chung chưa thành niên tên Nguyễn Hồ Thanh L, sinh ngày 08/01/2012 và Nguyễn Hồ Thanh T, sinh ngày 09/12/2014. Hiện 02 con đang sống chung với ông bà ngoại ở quê.

H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con. Nếu được Tòa án giao 02 con cho bà nuôi thì bà sẽ trực tiếp nuôi dưỡng chứ không để con sống chung với ông bà ngoại. Bà H yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi mỗi người con 2,000,000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có

* Tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, bị đơn ông Nguyễn Văn H1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với lời trình bày của bà H về thời điểm hai bên xác lập quan hệ vợ chồng. Ông không đồng ý ly hôn vì xác định vẫn còn tình cảm với bà H, muốn vợ chồng đoàn tụ để có trách nhiệm chăm lo cho gia đình.

Về con chung: Trường hợp Tòa tuyên bố ly hôn thì ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con. Ông không đồng ý giao con cho bà H nuôi vì bà H không trực tiếp nuôi con mà giao cho ông bà ngoại nuôi. Ông H1 không tin tưởng gia đình bên ngoại sẽ giáo dục các con được tốt. Nếu được Tòa án giao 02 con cho ông nuôi, ông sẽ về quê trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chứ không để cho bà nội nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc được ly hôn ông Nguyễn Văn H1; giao hai con chung chưa thành niên tên Nguyễn Hồ Thanh L, sinh ngày 08/01/2012 và Nguyễn Hồ Thanh T, sinh ngày 09/12/2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; ông H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi người con 2,000,000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà cùng lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[I] Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp trong vụ án là ly hôn. Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 có nơi cư trú tại địa chỉ: 1 Tỉnh lộ 43, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Nguyễn Văn H1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H1.

Hồ Thị H có đơn xin vắng mặt, không tham gia phiên tòa. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[II] Về nội dung:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H1 và bà Hồ Thị H tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 02/01/2013. Do đó, căn cứ Luật hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa ông H1, bà H là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc được ly hôn ông Nguyễn Văn H1, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào lời khai của đương sự có thể khẳng định mâu thuẫn gia đình của ông H1, bà H đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa ông H1 và bà H không tồn tại tình cảm vợ chồng, không có sự yêu thương, sự quan tâm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống do hai người đã không còn sống chung với nhau. Ông H1 không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với chồng nhưng tình cảm đó chỉ xuất phát từ một phía, không thể mang lại hạnh phúc cho người trong cuộc được. Vì vậy, để ổn định cuộc sống cho các bên đương sự, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, chấp nhận cho bà Hồ Thị H được ly hôn ông Nguyễn Văn H1 theo quy định Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

2. Về con chung: Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cùng lời khai của đương sự thể hiện ông H1 và bà H có 02 con chung chưa thành niên tên Nguyễn Hồ Thanh L, sinh ngày 08/01/2012 và Nguyễn Hồ Thanh T, sinh ngày 09/12/2014. Hiện cả hai người con đang sống chung với ông bà ngoại.

Việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét nguyện vọng và phải đảm bảo sự phát triển tốt mọi mặt của con chưa thành niên. Tại bản tự khai, trẻ Nguyễn Hồ Thanh LNguyễn Hồ Thanh L trình bày nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử căn cứ chấp nhận việc giao 02 trẻ cho bà H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H yêu cầu ông H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi người con 2,000,000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Tại phiên hòa giải ngày 01/3/2024, ông H1 xác nhận thu nhập trung bình mỗi tháng của ông là 15,000,000 đồng. Với mức thu nhập trên, ông H1 đủ điều kiện để cấp dưỡng nuôi mỗi người con 2,000,000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trên của bà H.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Ông H1 và bà H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị H phải chịu án phí ly hôn là 300,000 đồng; Ông Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300,000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị H về việc được ly hôn ông Nguyễn Văn H1.

- Về con chung: Giao hai con chung chưa thành niên tên Nguyễn Hồ Thanh L, sinh ngày 08/01/2012 và Nguyễn Hồ Thanh T, sinh ngày 09/12/2014 cho bà Hồ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi người con 2,000,000 đồng/tháng cho đến khi trẻ Nguyễn Hồ Thanh LNguyễn Hồ Thanh T đủ 18 tuổi.

Trường hợp bà Hồ Thị H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không giải quyết quan hệ về tài sản chung và nợ chung.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Hồ Thị H phải chịu án phí lý hôn là 300,000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300,000 đồng bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004890 ngày 21/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

Ông Nguyễn Văn H1 phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con 3,000,000 đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn H1 và bà Hồ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP . HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức, Tp . HCM;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức, Tp . HCM;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Lê Thị Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1690/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con

  • Số bản án: 1690/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger