|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI Bản án số: 169/2024/HSST Ngày: 29/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Quách Đình Hoằng
Bà RCom H'Myu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 139/2024/TLST – HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Chung A, T gọi khác: Không; Sinh ngày 12/4/1992 tại Gia Lai; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: 7 Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Phụ xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chung A D, sinh năm 1962 và bà Ngô Thị H, sinh năm 1963; Bị cáo có vợ là Tăng Thị Thanh T1, sinh năm 1996 đã ly hôn và có một con sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị cáo Chung A D1 bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Ngày 14/6/2024, được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
- Nguyễn Ngọc S, T gọi khác: Không; Sinh ngày 28/11/1991 tại Gia Lai; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn H, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thúy D2, sinh năm 1994 và có một con sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị cáo Nguyễn Ngọc S bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Ngày 14/6/2024, được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
- Trương Xuân V, T gọi khác: Không; Sinh ngày 09/5/1987 tại Gia Lai; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Phụ xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn C1, sinh năm 1954 đã chết và bà Phạm Thị C2, sinh năm 1957; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Xuân D3, sinh năm 1991 và có một con sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo Trương Xuân V bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Ngày 14/6/2024, được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
- Lê Trần Duy L, T gọi khác: Không; Sinh ngày 09/11/1990 tại Gia Lai; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Làng B, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Ú, sinh năm 1967 và bà Trần Thị Ngọc H2, sinh năm 1967; Bị cáo có vợ là Trần Thị Kim L1, sinh năm 1990 và có một con sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị cáo Lê Trần Duy L bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Ngày 14/6/2024, được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
- Hồ Ngọc C3, T gọi khác: Không; Sinh ngày 18/3/1983 tại Bình Định; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Xóm F, Thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Ngọc M, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1965; Bị cáo có vợ là Văn Thị P, sinh năm 1986 và có ba con lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo Hồ Ngọc C3 bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Ngày 14/6/2024, được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
- Phạm Xuân H3, T gọi khác: Không; Sinh ngày 08/6/1984 tại Gia Lai; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: 245 L, Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1957; Bị cáo có vợ là Bùi Thị Thúy H4, sinh năm 1988 và có hai con sinh năm 2013 và 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị cáo Phạm Xuân H3 bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
- Chế Thành T3, T gọi khác: Không; Sinh ngày 04/8/1977 tại Gia Lai; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn F, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chế S1 và bà Nguyễn Thị Đ1 đã chết; Bị cáo có vợ là Võ Thanh T4, sinh năm 1978 và có ba con lớn nhất sinh năm 1999 nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị cáo Chế Thành T3 bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Ngày 14/6/2024, được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
- Nguyễn Văn B, T gọi khác: Không; Sinh ngày 19/11/1990 tại Gia Lai; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ D, phường N, thị xã A, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1947; Bị cáo có vợ là Lê Thị Lan P1, sinh năm 1985 và có một con sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị cáo Nguyễn Văn B bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Ngày 14/6/2024, được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
- Mai Khánh L2, T gọi khác: Không; Sinh ngày 21/02/1999 tại Hà Tĩnh; Nơi thường trú: 28 P, Tổ A, phường H, T, tỉnh Gia Lai và nơi ở hiện tại: 231 L, Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Phụ xe; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn H5, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1975; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị cáo Mai Khánh L2 bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Ngày 04/6/2024, được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số B L, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc S, Lê Trần Duy L, Hồ Ngọc C3, Chung A, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Mai Khánh L2, Trương Xuân V, Nguyễn Văn B đều là lái xe và phụ xe của nhà xe T7 (văn phòng tại số G đường Đ, phường D, TP ., tỉnh Gia Lai), nên quen biết nhau. Khoảng 10 giờ ngày 07/3/2024, tại phòng trọ số 02, nhà trọ số B đường L, Tổ F, phường H, TP ., trong lúc chờ ăn cơm trưa thì D1 khởi xướng và rủ S, V, C3 xóc “Bầu cua” thắng thua bằng tiền; S, V, C3 đều đồng ý. D1 lấy điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy của mình mở ứng dụng trò chơi “BAU CUA 2023”, để chơi xóc “Bầu cua” thắng thua bằng tiền; cả nhóm thống nhất để S là người cầm cái. D1, S, V, C3 xóc “Bầu cua” thắng thua bằng tiền với nhau được một lúc, thì lần lượt Phạm Xuân H3, Nguyễn Văn B, Lê Trần Duy L, Mai Khánh L2, Chế Thành T3 đến phòng trọ chơi và cũng tham gia đặt tiền vào trò chơi xóc “Bầu cua” cùng với D1, S, V, C3. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày 07/6/2024, khi S, L, C3, D1, T3, H3, L2, V, B đang chơi xóc “Bầu cua” thắng thua bằng tiền với nhau, thì bị lực lượng Cảnh sát hình sự Công an T8 phối hợp với Công an phường H, TP . kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Lực lượng Công an đã thu giữ tại hiện trường nơi Nguyễn Ngọc S, Lê Trần Duy L, Hồ Ngọc C3, Chung A, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Mai Khánh L2, Trương Xuân V và Nguyễn Văn B đang thực hiện hành vi xóc “Bầu cua” thắng thua bằng tiền các tài sản, vật chứng gồm:
- - 6.380.000 đồng (sáu triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 thu giữ tại vị trí xóc “Bầu cua”;
- - 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 thu giữ trong ví Hồ Ngọc C3;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, loại A34 5G, màu đen, số Imei 352689822856732; bên trong điện thoại có ứng dụng trò chơi có tên "BAU CUA 2023"
Qua điều tra, xác định cách thức Chung A D4, Nguyễn Ngọc S, Lê Trần Duy L, Hồ Ngọc C3, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Mai Khánh L2, Trương Xuân V và Nguyễn Văn B thực hiện hành vi xóc “Bầu cua” thắng thua bằng tiền như sau: Dụng cụ đánh bạc là điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy của D4, bên trong có ứng dụng trò chơi có tên “BAU CUA 2023”, đây là ứng dụng mô phỏng trò chơi xóc “Bầu cua” trên thực tế. Cụ thể: Khi truy cập vào ứng dụng, sẽ có 01 bàn hình cầu có in hình ảnh 06 biểu tượng bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; có 03 hạt xí ngầu hình lập phương, mỗi mặt có in hình 01 trong 06 biểu tượng là bầu, cua, tôm, cá, gà, nai. Mỗi ván chơi, khi người cầm cái bấm vào màn hình thì các hạt xí ngầu sẽ đổ ngẫu nhiên, sau đó những người tham gia chơi đặt tiền vào 01 trong 06 biểu tượng bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; cả nhóm thống nhất mức đặt cược thấp nhất là 10.000 đồng (mười nghìn đồng), cao nhất là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi những người chơi đặt tiền vào các biểu tượng tương ứng trên điện thoại xong, người cầm cái sẽ ấn nút “MỞ” để biết kết quả ván chơi. Nếu người chơi nào đặt tiền vào hình trùng với một trong ba hình của hạt xí ngầu, thì sẽ thắng và được người cầm cái trả số tiền bằng với số tiền đã đặt; nếu người chơi nào đặt tiền vào hình không trùng với một trong ba hình của hạt xí ngầu, thì thua và người cầm cái được hưởng số tiền người chơi đã đặt. Nếu trong một ván chơi, mặt trên của 02 hoặc 03 hạt xí ngầu giống nhau (ví dụ 02 hình bầu hoặc 03 hình cá...), thì người chơi đặt tiền vào hình tương ứng sẽ thắng được số tiền gấp đôi, gấp ba số tiền đã đặt. Ngoài ra, trong quá trình chơi xóc “Bầu cua” mỗi người chơi đều có quyền “tả”, tức là lấy số tiền đã đặt của người chơi khác để đặt vào hình khác theo ý mình. Khi người cầm cái ấn nút “MỞ”, nếu mặt trên các hạt xí ngầu có hình trùng với hình người chơi đã “tả” và không trùng hình với người chơi trước đã đặt, thì người “tả” thắng được số tiền của người đặt trước đồng thời thắng được số tiền đã “tả” do người cầm cái trả; nếu các hạt xí ngầu có hình không trùng với hình người “tả” và không trùng với hình người chơi trước đặt, thì người cầm cái thắng và được hưởng số tiền người chơi đặt; nếu các hạt xí ngầu có hình trùng với người chơi đặt cược trước, mà không trùng với người “tả” thì người cầm cái cũng được hưởng số tiền người chơi đặt, người “tả” phải trả tiền cho người đặt trước bằng gấp đôi số tiền đã “tả”; nếu các hạt xí ngầu có hình trùng với hình người đặt trước và cũng có hình trùng với người “tả”, thì người “tả” thắng và người đặt trước cũng thắng, mỗi người được người cầm cái trả số tiền bằng với số tiền đã đặt và đã “tả”. Như vậy, ngoài việc những người chơi đánh bạc với người cầm cái (là Nguyễn Ngọc S), thì những người chơi cũng thực hiện hành vi đánh bạc với nhau qua hình thức “tả” như nêu trên.
Qua điều tra, xác định số tiền Chung A D4, Nguyễn Ngọc S, Lê Trần Duy L, Hồ Ngọc C3, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Mai Khánh L2, Trương Xuân V, Nguyễn Văn B dùng để đánh bạc như sau:
- Chung A D4 không bỏ vốn, sau khi ăn ván đầu tiên được 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) thì lấy tiền đó làm vốn. Thời điểm bị bắt quả tang, D4 đã thắng số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)
- - Nguyễn Ngọc S sử dụng 4.520.000 đồng (bốn triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Thời điểm bị bắt quả tang, S có 3.970.000 đồng (ba triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng). S đã thua 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng)
- Lê Trần Duy L sử dụng 1.000.000 đồng (một triệu đồng) hùn vốn với S để đánh bạc. Thời điểm bị bắt quả tang, L đã thua hết số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng)
- Chế Thành T3 sử dụng 220.000 đồng (hai trăm hai mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Thời điểm bị bắt quả tang, T3 còn 160.000 đồng (một trăm sáu mươi nghìn đồng). Tín đã thua 60.000 đồng (sáu mươi nghìn đồng)
- Phạm Xuân H3 sử dụng 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Thời điểm bị bắt quả tang, H3 đã thua hết số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
- Mai Khánh L2 sử dụng 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Thời điểm bị bắt quả tang, L2 đã thua hết số tiền 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng)
- Trương Xuân V sử dụng 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Thời điểm bị bắt quả tang, V đã thua hết số tiền 400.000 đông (bốn trăm nghìn đồng)
- - Hồ Ngọc C3 sử dụng 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Thời điểm bị bắt quả tang C3 có 750.000 đồng, trong đó 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) đang sử dụng để tiếp tục đánh bạc và 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn đồng) được cất vào trong ví
- Nguyễn Văn B sử dụng 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Thời điểm bị bắt quả tang, B không thắng không thua và còn nguyên 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).
Như vậy, qua điều tra xác định tổng số tiền Chung A, Nguyễn Ngọc S, Lê Trần Duy L, Hồ Ngọc C3, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Mai Khánh L2, Trương Xuân V, Nguyễn Văn B sử dụng để đánh bạc với nhau là 7.030.000 đồng (bảy triệu không trăm ba mươi nghìn đồng); toàn bộ số tiền trên đã bị lực lượng Công an thu giữ khi bắt quả tang.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 156/CT-VKS ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Chung A D4, Nguyễn Ngọc S, Lê Trần Duy L, Trương Xuân V, Hồ Ngọc C3, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Mai Khánh L2 và Nguyễn Văn B bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Chung A D4, Nguyễn Ngọc S, Lê Trần Duy L, Trương Xuân V, Hồ Ngọc C3, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Mai Khánh L2 và Nguyễn Văn B phạm tội “Đánh bạc”
Đối với bị cáo Chung A D4: Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 Bộ Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 3 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng.
Đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Trương Xuân V: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 Bộ Hình sự đề nghị xử phạt mỗi bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 3 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng.
Bị cáo Lê Trần Duy L, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Hồ Ngọc C3: Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 36 Bộ Hình sự đề nghị xử phạt mỗi bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn B: Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt hình phạt tiền bị cáo từ 20 triệu đến 25 triệu đồng.
Đối với bị cáo Mai Khánh L2: Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt hình phạt tiền bị cáo từ 20 triệu đến 25 triệu đồng.
Không áp dụng hìn phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án đề nghị HĐXX: Tịch thu sung công số tiền 7.030.000 đồng (bảy triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 vì đây là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu S2, loại A34 5G màu đen, số Imei 352689822856732, trong máy có ứng dụng trò chơi tên “BAU CUA 2023” là công cụ để thực hiện hành vi đánh bạc
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
- [2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Chung A, Nguyễn Ngọc S, Trương Xuân V, Lê Trần Duy L, Hồ Ngọc C3, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Mai Khánh L2, Nguyễn Văn B có quan hệ quen biết nhau. Khoảng 10 giờ ngày 07/3/2024, tại phòng trọ số B, nhà trọ số B đường L, phường H, TP ., tỉnh Gia Lai, D4 khởi xướng và rủ S, V, C3 đánh bầu cua thắng thua bằng tiền, thì tất cả đều đồng ý. D4 lấy điện thoại di động của mình mở ứng dụng trò chơi “BAU CUA 2023”, để S cầm cái và D4, V, C3 đặt tiền. Sau đó, H3, B, L, L2, T3 cũng tham gia đặt tiền để chơi xóc “Bầu cua”. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi D4, S, V, C3, H3, B, L, L2, T3 đang thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức xóc “Bầu cua” theo ứng dụng trò chơi trên điện thoại di động, thì bị Công an T8 phát hiện, bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc với nhau là 7.030.000 đồng (bảy triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) và điện thoại di động sử dụng làm công cụ đánh bạc đã bị thu giữ.
Hành vi cùng nhau chơi xóc “Bầu cua” thắng thua bằng tiền, với tổng số tiền sử dụng cá cược với nhau là 7.030.000 đồng (bảy triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) do các bị cáo Chung A D4, Nguyễn Ngọc S, Lê Trần Duy L, Hồ Ngọc C3, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Mai Khánh L2, Trương Xuân V, Nguyễn Văn B thực hiện như nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, đã phạm vào tội: “Đánh bạc”, được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, tệ nạn cờ bạc diễn ra ngày càng phức tạp, là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác. Vì vậy để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội cần thiết phải xét xử và áp dụng cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
- [4] Để có mức án thỏa đáng, ngoài việc xem xét, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ và vai trò của các bị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt.
- [5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo S, V có nhân thân xấu, các bị cáo D4, L, T3, H3, C3, B và L2 đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo D4, S, V, L, T3, H3, C3, B và L2 đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Các bị cáo D4, L, T3, H3, C3, B, L2 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo D4, S, V, L, T3, H3, C3 có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính được chính quyền địa phương xác nhận, gia đình của bị cáo B và V có công với cách mạng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [6] Về vai trò của các bị cáo được xác định như sau:
Các bị cáo trong vụ án phạm tội đánh bạc thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo Chung A D4 là người khởi xướng, rủ rê và cùng với Nguyễn Ngọc S, Trương Xuân V, Hồ Ngọc C3, Phạm Xuân H3, Nguyễn Văn B, Lê Trần Duy L, Mai Khánh L2, Chế Thành T3 trực tiếp thực hành tội phạm. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào mức độ tham gia vào việc phạm tội của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng.
Bị cáo D4 tuy không bỏ vốn nhưng là người khởi xướng rủ rê việc phạm tội, bị cáo S tham gia đánh bạc với số tiền nhiều nhất 4.520.000 đồng, tiếp đến bị cáo L tham gia đánh bạc số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo V và bị cáo C3 cùng tham gia đánh bạc với số tiền 400.000 đồng, bị cáo H3 tham gia đánh bạc với số tiền 300.000 đồng, bị cáo T3 tham gia đánh bạc với số tiền 220.000 đồng, bị cáo B tham gia đánh bạc với số tiền 150.000 đồng và cuối cùng bị cáo L2 tham gia đánh bạc với số tiền 40.000 đồng.
Căn cứ vào tính chất, mức độ tham gia tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thì hình phạt áp dụng với bị cáo S là cao nhất vì bị cáo vừa tham gia đánh bạc với số tiền nhiều nhất vừa có nhân thân xấu; bị cáo V tham gia đánh bạc với số tiền ít hơn bị cáo S nhưng cũng có nhân thân xấu, bị cáo D4 tuy tham gia đánh bạc không bỏ vốn nhưng là người khởi xướng việc phạm tội do đó hình phạt của bị cáo bằng bị cáo V, bị cáo L, T3, H3, C3 tham gia đánh bạc với số tiền tương đương nhau nên hình phạt ngang nhau, bị cáo B và L2 đánh bạc với số tiền thấp hơn nên các bị cáo chịu hình phạt thấp hơn.
Bị cáo D4 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (trong đó có 2 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Bị cáo S, V có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (trong đó có 01 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Xét thấy, các bị cáo D4, S, V có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho hưởng án treo không không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Xét thấy các bị cáo B, L2 phạm tội ít nghiêm trọng. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 35 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo B, L2. Bị cáo L, T3, H3, C3 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo L, T3, H3, C3 cũng đủ để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
- [7] Về hình phạt bổ sung:
Đối với các bị cáo B, L2 đã áp dụng hình phạt chính bằng hình thức phạt tiền nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, bị cáo D4, S, V, L, T3, H3 và bị cáo C3 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [8] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 7.030.000 đồng (bảy triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, loại A34 5G màu đen, số Imei 352689822856732, trong máy có ứng dụng trò chơi tên “BAU CUA 2023” thu giữ khi bắt quả tang. Xét thấy số tiền và điện thoại liên quan đến việc phạm tội. Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- [9] Về các vấn đề khác:
Đối với bà Nguyễn Thị T5 (sinh năm 1961), là chủ dãy nhà trọ số B đường L, phường H, TP ., tỉnh Gia Lai, qua điều tra xác định: Bà T5 không biết gì về việc các bị cáo trong vụ án thực hiện hành vi đánh bạc trong khu nhà trọ của mình, nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý, là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [10] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- [11] Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quan điểm giải quyết vụ án cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Chung A D4, Nguyễn Ngọc S, Lê Trần Duy L, Trương Xuân V, Hồ Ngọc C3, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Mai Khánh L2 và Nguyễn Văn B phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo C4 (Một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 2 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 29/8/2024. (Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến ngày 14/6/2024)
Giao bị cáo Chung A D4 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 1 (Một) năm 3 (Ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 2 (Hai) năm 6 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 29/8/2024. (Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến ngày 14/6/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc S cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Xuân V 1 (Một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 2 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 29/8/2024. (Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến ngày 14/6/2024)
Giao bị cáo Trương Xuân V cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Chung A D4, Nguyễn Ngọc S và Trương Xuân V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Trần Duy L 11 (Mười một) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố T8, tỉnh Gia Lai nhận được quyết định thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến ngày 14/6/2024, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo L. Giao bị cáo Lê Trần Duy L cho Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai kết hợp cùng gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hồ Ngọc C3 11 (Mười một) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự huyện T, tỉnh Bình Định nhận được quyết định thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến ngày 14/6/2024, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo C3. Giao bị cáo Hồ Ngọc C3 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Định kết hợp cùng gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Xuân H3 11 (Mười một) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố T8, tỉnh Gia Lai nhận được quyết định thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo H3. Giao bị cáo Phạm Xuân H3 cho Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai kết hợp cùng gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Chế Thành T3 11 (Mười một) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự huyện M, tỉnh Quảng Ngãi nhận được quyết định thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến ngày 14/6/2024, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo T3. Giao bị cáo Chế Thành T3 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi kết hợp cùng gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mai Khánh L2 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo C4 (Một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 2 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 29/8/2024. (Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến ngày 14/6/2024)
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xử: Tịch thu sung công số tiền 7.030.000 đồng (Bảy triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, loại A34 5g, màu đen, số Imei 352689822856732.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T8, tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai).
- Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử buộc bị cáo Chung A D4, Nguyễn Ngọc S, Lê Trần Duy L, Trương Xuân V, Hồ Ngọc C3, Chế Thành T3, Phạm Xuân H3, Mai Khánh L2 và Nguyễn Văn B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thắm |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
||||||
|
Bản án số 169/2024/HSST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 169/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chung A Dương cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc
