|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 169/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-8-2023
V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quý Hòa;
Bà Nguyễn Thị Bích Hiển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 28/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 86/2023/TLST-HNGĐ ngày 16/5/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đinh Văn Đ, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Thôn B, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Thôn B, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, vắng mặt lần 02 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/5/2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Đinh Văn Đ trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 29/10/2014. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có với nhau 02 con chung tên Đinh Thị Tiết T1, sinh ngày 16/5/2011 và Đinh Tuấn T2, sinh ngày 23/01/2014. Đến năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông đi làm cả ngày, bà T ở nhà không làm gì, khi đi làm về thì nghe chòm xóm nói bà T hay ăn trộm vặt nên ông bực tức và xảy ra cãi vã, xích mích. Đến đầu năm 2023 thì bà T dẫn 02 con chung bỏ đi cho đến nay. Sau khi vợ dẫn con bỏ đi, ông có lên phía nhà vợ tìm nhưng không thấy, thỉnh thoảng bà T có gọi điện về thăm nhưng khi ông hỏi địa chỉ thì bà T không nói. Khi nộp đơn ly hôn, ông có hỏi ý kiến bà T nhưng bà T không nói gì và cũng không cung cấp địa chỉ hiện tại. Nay ông nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án cho ông được ly hôn bà Nguyễn Thị T.
Về con chung: Vợ chồng ông có 02 con chung tên Đinh Thị Tiết T1, sinh ngày 16/5/2011 và Đinh Tuấn T2, sinh ngày 23/01/2014 hiện nay do bà T nuôi dưỡng nên khi ly hôn ông đồng ý để bà T tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con; ông Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng ông không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, theo quy định tại Điều 177; 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bà T không đến Tòa án trình bày ý kiến và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục tố tụng và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng ông Đinh Văn Đ và bà Nguyễn Thị T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ông Đinh Văn Đ được ly hôn bà Nguyễn Thị T.
Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung tên Đinh Thị Tiết T1, sinh ngày 16/5/2011 và Đinh Tuấn T2, sinh ngày 23/01/2014 cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng; ông Đinh Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Đinh Văn Đ có đơn yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị T. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
[2] Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của ông Đinh Văn Đ; bà Nguyễn Thị T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ, bà T.
[3] Về quan hệ hôn nhân: ông Đinh Văn Đ và bà Nguyễn Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 29/10/2014 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Theo ông Đ trình bày: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ đi làm cả ngày, bà T ở nhà không làm gì, khi ông T đi làm về thì nghe hàng xóm nói bà T hay ăn trộm vặt nên ông Đ bực tức và xảy ra cãi vã, xích mích. Đến đầu năm 2023, bà T dẫn 02 con bỏ đi cho đến nay. Sau đó, ông Đ có lên phía nhà vợ tìm nhưng không thấy, thỉnh thoảng bà T có gọi điện thoại về hỏi thăm nhưng không nói địa chỉ hiện giờ đang ở đâu.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành các thủ tục thông báo thụ lý và thông báo các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải hợp lệ, nhưng tất cả các buổi làm việc tại Tòa án bà T đều vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, bà T cũng không có mặt, điều này chứng tỏ bà cũng không muốn níu kéo tình cảm vợ chồng, không muốn níu kéo cuộc hôn nhân của ông bà nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
Xét thấy, tình cảm vợ chồng ông Đinh Văn Đ và bà Nguyễn Thị T mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Ông Đinh Văn Đ và bà Nguyễn Thị T có 02 con chung tên Đinh Thị Tiết T1, sinh ngày 16/5/2011 và Đinh Tuấn T2, sinh ngày 23/01/2014. Đầu năm 2023 bà T bỏ đi đã dẫn theo 02 con chung đi cùng đến nay nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến 02 con chung của ông bà. Tuy nhiên, tại Tòa ông T đồng ý giao 02 con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng nên cần tiếp tục giao con cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Do không làm việc được với bị đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đinh Văn Đ không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Ông Đinh Văn Đ là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Ông Đinh Văn Đ được ly hôn bà Nguyễn Thị T.
-
Về con chung: Giao con chung tên Đinh Thị Tiết T1, sinh ngày 16/5/2011 và Đinh Tuấn T2, sinh ngày 23/01/2014 cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Đinh Văn Đ được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Ông Đinh Văn Đ là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả lại cho ông Đinh Văn Đ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0010955, ngày 16/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Nam |
Bản án số 169/2023/HNGĐ-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 169/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
