|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 174/2024/HS-ST Ngày: 11/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Long
2. Bà Ngô Thị Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hà Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh A - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số 168/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1985 tại tỉnh Thái Nguyên. Nơi ĐKHKTT: Xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Bố: Không xác định được họ tên; Mẹ: Nguyễn Thị C; Chưa có vợ, con.
- Tiền án: Không.
- Tiền sự: Tại Quyết định số 10/QĐ-CA ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T thời gian 18 tháng. Chấp hành xong ngày 26/10/2023.
- Nhân thân: Không.
- Tiền sự: Tại Quyết định số 18/QĐ-CA ngày 31/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T thời gian 18 tháng. Chấp hành xong ngày 01/4/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt)
* Người chứng kiến:
Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 40 phút ngày 17/4/2024, tổ công tác của Công an phường T, thành phố T làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực thuộc tổ 12 của phường thì phát hiện một người đàn ông đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai họ tên là Nguyễn Văn T. Quá trình kiểm tra, T tự giác giao nộp cho tổ công tác từ lòng bàn tay phải 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. T khai nhận đây là ma túy H vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành cân xác định khối lượng: Toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của T có khối lượng 0,151 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng đưa vào phong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 546/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng là 0,151 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 17/4/2024, T bắt xe buýt đi từ nhà đến khu vực ngã ba T thành phố T mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, T xuống xe đi bộ vào một ngõ dân sinh rồi gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng, với số tiền 100.000 đồng. Mua được ma túy, T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy thì bị tổ công tác của Công an phường T, T bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn T phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng tài liệu có trong hồ sơ.
Vật chứng vụ án gồm:
- 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu.
- 01 bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong chứa bì niêm phong ban đầu.
Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 172/CT-VKSTPTN, ngày 19/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy và vỏ bao gói mẫu được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu T1, T2.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình, xã hội trong lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 08 giờ 40 phút ngày 17/4/2024, tại khu vực tổ A, phường T, thành phố T, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ 0,151 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường T, T bắt quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng.
Với hành vi nêu trên, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) .....
c) Heroine .. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền sự năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng. Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng. Sau khi chấp hành xong, bị cáo vẫn không từ bỏ được ma túy, tiếp tục sử dụng dẫn đến hành vi phạm tội. Do vậy, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản gì, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[5]. Vật chứng vụ án:
Số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong kí hiệu T1, T2 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[6]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7]. Nguồn gốc số ma túy thu giữ, T khai mua của người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ tại khu vực ngõ D thuộc phường T, thành phố T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu.
- 01 bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong chứa bì niêm phong ban đầu.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 199 ngày 26/6/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục THADS thành phố T).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
|
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Quỳnh |
Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 174/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
