|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 169/2024/DS-ST Ngày 24 – 6 – 2024 V/v tranh chấp đòi lại tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Chí Nhân
- Ông Nguyễn Ngọc Trường
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 326/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1944; địa chỉ cư trú: ấp P, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1945; địa chỉ cư trú: ấp P, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị M: Ông Trần Văn T, sinh năm 1944; địa chỉ cư trú: ấp P, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền ngày 10/6/2024), (vắng mặt);
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn L; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Á; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2004, vợ chồng bà Á và ông L có hỏi mượn của ông T và bà M 40 chỉ vàng 24k. Năm 2014, có trả 8 chỉ vàng 24k, còn thiếu 32 chỉ vàng 24k. Ông T và bà M nhiều lần yêu cầu ông L và bà Á trả nợ nhưng không thực hiện. Nay ông T và bà M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L và bà Á trả lại 22 chỉ vàng 24k theo đúng biên bản hòa giải ở ấp T mà bà Á đã thừa nhận.
* Đối với bị đơn ông L và bà Á:
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông L và bà Á hợp lệ nhưng ông L và bà Á không có ý kiến hay yêu cầu gì và không tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Văn T là nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà M có đơn xin xét xử vắng mặt; Bà Nguyễn Thị Á và ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Ông T và bà M khởi kiện yêu cầu ông L và bà Á có địa chỉ cư trú ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau trả lại số vàng đã cho mượn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 166 Bộ luật dân sự đây là tranh chấp quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản cụ thể quyền đòi lại tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
[3] Xét nội dung vụ án thấy rằng: Nguyên đơn xác định ông L, bà Á có hỏi mượn của nguyên đơn 40 chỉ vàng 24k vào năm 2004, qua thời gian có thanh toán 08 chỉ, còn nợ lại 32 chỉ vàng 24k. Thời điểm cho mượn vàng không làm biên nhận nên nay bị đơn thừa nhận nợ 22 chỉ thì yêu cầu trả 22 chỉ vàng 24k. Tại biên bản hòa giải ngày 05/5/2024 của Tổ hòa giải ấp T (BL 01, 02) thể hiện bà Á thừa nhận có mượn của nguyên đơn 30 chỉ vàng 24k, đã trả 08 chỉ, còn nợ lại 22 chỉ vàng 24k. Quá trình giải quyết vụ án, ông L và bà Á đã trực tiếp nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu của ông T và bà M nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự và yêu cầu của ông T, bà M có cơ sở được chấp nhận. Do đó cần buộc trách nhiệm ông L và bà Á trả cho ông T và bà M 22 chỉ vàng 24k là đúng quy định tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì bị đơn ông L và bà Á phải chịu toàn bộ án phí trên số vàng phải trả cho nguyên đơn là 8.217.000 đồng (giá vàng tại thời điểm xét xử 7.470.000 đồng/chỉ x 22 chỉ = 164.340.000 đồng x 5%).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M. Buộc ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Á có trách nhiệm liên đới trả cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M 22 (hai mươi hai) chỉ vàng 24k (hai mươi bốn kara).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Á phải chịu 8.217.000 đồng (tám triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng); (chưa nộp).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Ngọc Trúc |
Bản án số 169/2024/DS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 169/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đòi lại tài sản
