TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 169/2024/HS-ST Ngày 23-8-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tuân, bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh – Kiểm sát viên
Trong ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 152/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Đình N, sinh năm 1991; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố T, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Số nhà G, đường N, tổ dân phố M, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Văn hoá: 12/12; Con ông Ngô Văn C, sinh năm 1960 và bà Lường Thị H, sinh năm 1965 (đã chết); Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ hai. Tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 220/2020/HS-PT ngày 14/8/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị cáo Chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2021, Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 16/12/2021 của Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 26/3/2023. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 29/10/2021 bị Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại tài sản. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
* Bị hại: Anh Nguyễn Huy C1, sinh năm 1983. Nghề nghiệp: Trưởng phòng Quản lý Nhà và Thị trường bất động sản - Sở Xây dựng tỉnh B
Nơi cư trú: Số nhà C, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Sở Xây dựng tỉnh B. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Việt P - Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Số nhà C, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ông Vũ Xuân V, sinh năm 1957 - Bảo vệ Sở Xây dựng tỉnh B
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982 (Vắng mặt, không có lý do)
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 (Vắng mặt, không có lý do)
- Anh Đặng Văn L1, sinh năm 1992 (Vắng mặt, không có lý do)
- Chị Đoàn Thị Thu Q, sinh năm 1977 - Tạp vụ Sở Xây dựng tỉnh B
- Ông Nguyễn Việt P, sinh năm 1979 - Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh B
- Ông Lê Quang M, sinh năm 1970 – Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh B
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1963 – Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh B
- Anh Nguyễn Đức Đ1, sinh năm 1988 (Vắng mặt, không có lý do)
- Anh Ngô Văn K, sinh năm 1990 Nơi cư trú: Số H, đường Y, khu phố T, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Trung Đ, sinh năm 1981 - Phó Chánh văn phòng, Sở Xây dựng tỉnh B (Có mặt)
Nơi cư trú: Số nhà 30, đường Nhật Đức, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Nơi cư trú: Số nhà F, ngõ B đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Nơi thường trú: Tổ 2, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang Nơi cư trú: Tập thể G1, T, huyện T, Hà Nội
Nơi thường trú: Căn hộ 1002 H1, chung cư HUD3, số F N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội
Nơi cư trú: Số D, ngõ I đường H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội
Nơi thường trú: Thôn Q, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình
Nơi cư trú: Ngõ E, T, huyện T, Thành phố Hà Nội
Nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
(Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Số nhà E, đường V, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Số nhà E, ngách C, ngõ A đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang
(Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Đình N đã từng sinh sống và làm công nhân lái máy xúc tại thành phố B nên biết Sở Xây dựng tỉnh B có địa chỉ tại số C, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. N nảy sinh ý định đột nhập vào Sở Xây dựng tỉnh B để trộm cắp tài sản nên đã chuẩn bị 03 tô vít, 01 cờ lê, 02 đoạn xà cầy, 01 bình xịt cay, 01 kìm cầm tay, 02 đôi găng tay vải và để trong chiếc ba lô bằng vải màu đen làm công cụ trộm cắp tài sản. Khoảng 21 giờ ngày 18/3/2024, Ngô Đình N cầm chiếc ba lô đựng các công cụ nêu trên rồi đi xe khách từ thành phố T đến thành phố Hà Nội. Trên đường đi, N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max lắp sim số 0366.743.992 truy cập ứng dụng Googole Map tìm đường đến thành phố B rồi chụp ảnh lại, lưu trong điện thoại. Khi đến thành phố Hà Nội, N thuê nhà nghỉ ở khu vực đường G để nghỉ. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19/3/2024, N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model 1280 lắp sim số 0569.808.828 gọi đến hãng taxi “Thủ đô Sao” thuê chở từ bến xe G đến thành phố B. Sau khi nhận được thông báo của tổng đài, anh Đặng Văn L1 điều khiển xe taxi biển kiểm soát 35E-002.78 đến đón và đưa N đến thành phố B. Khoảng 00 giờ ngày 20/3/2024, anh L1 chở N đi đến trước cửa Siêu thị điện máy xanh gần Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang thì N bảo dừng lại. N thanh toán tiền taxi rồi anh L1 điều khiển xe trở về thành phố Hà Nội. N xuống xe đi bộ quan sát thấy phòng bảo vệ Sở Xây dựng tỉnh B tắt điện nên đoán là bảo vệ đã đi ngủ. Thời điểm này, ông Vũ Xuân V là nhân viên bảo vệ Sở Xây dựng tỉnh B đã đi ngủ ở phòng cạnh cổng chính trụ sở. N đi vào đường phía bên phải rồi đi vào khu vực rãnh cống giữa hai dãy nhà gần đó cởi áo khoác ngoài, lấy áo chống nắng trong ba lô ra mặc, đeo găng tay rồi trèo qua tường rào cổng phụ của Sở Xây dựng vào bên trong sân. N đi đến cửa ở tầng 1 rồi lấy 01 tô-vít cậy, mở cửa vào trong hành lang. N đi lên tầng 2 đến cửa phòng ông Nguyễn Văn N1 là Phó Giám đốc rồi sử dụng tô vít cậy phá mở được khoá cửa. N đi vào trong phòng lục tìm các ngăn tủ ở trong phòng thấy không có tiền nên đi ra ngoài. N đi đến cửa phòng ông Nguyễn Việt P là Giám đốc rồi sử dụng tô vít cậy, mở cửa đi vào trong phòng lục các ngăn bàn, ngăn tủ thấy không có tiền. N lấy 01 cốc thủy tinh trên bàn lấy nước uống và lấy 01 điếu thuốc lá Thăng Long trong bao thuốc mang theo từ trước ra hút. Sau đó, N để cốc ở trong chậu đá trong phòng, vứt đầu lọc của điếu thuốc vừa hút vào chậu đá rồi tiếp tục lục tìm nhưng không phát hiện thấy có tiền. N đi ra ngoài rồi đi lên tầng 3, sử dụng tô vít cậy cửa phòng ông Lê Quang M là Phó Giám đốc rồi đi vào lục tìm các ngăn bàn, ngăn tủ thấy không có tiền nên đi xuống tầng 2. N sử dụng tô vít cậy cửa phòng anh Nguyễn Huy C1 là Trưởng phòng quản lý nhà và thị trường bất động sản, N sử dụng tô vít cậy khoá ngăn tủ bàn làm việc (bàn để chiếc máy in) thấy bên trong có 06 cọc tiền đều có mệnh giá 500.000 đồng. Đây là số tiền của anh C1 để tại đó. N đút vào 02 túi quần mỗi túi 01 cọc tiền, cho 04 cọc tiền còn lại vào túi đeo trên người. N mở các ngăn tủ của chiếc tủ đứng thì thấy 01 ngăn khoá nên dùng tô vít cậy phá thì thấy bên trong có 01 tập tiền mệnh giá 100.000 đồng và 10 bao lì xì bên trong đều có tiền. N lấy toàn bộ số tiền này cho vào trong túi đeo. Sau đó, N đi xuống tầng 1 rồi trèo qua tường rào phía sau Sở Xây dựng. N cởi áo chống nắng cất vào trong ba lô, lấy áo khoác mặc bên ngoài rồi đi bộ đến gần khu vực cổng Sở Y tế tỉnh B.
Khoảng hơn 02 giờ ngày 20/3/2024, N gọi điện thoại thuê xe taxi. Một lúc sau, anh Nguyễn Đức Đ1 là lái xe taxi hãng Hồng H2 điều khiển xe taxi Biển kiểm soát 11A-096.13 đến khu vực cổng Sở Y tế tỉnh B đón N. N bảo anh Đ1 chở đến Bệnh viện B, Hà Nội và nói dối là có người thân đang cấp cứu. Khi đến nơi, N trả tiền thuê xe rồi anh Đ1 lái xe trở về thành phố B. Sau đó, N thuê xe taxi, xe khách đi về thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Trên đường đi, N tháo sim điện thoại 0569.808.xxx vứt đi để tránh bị phát hiện. Khoảng 08 giờ cùng ngày thì N về đến nhà. N kiểm đếm tiền thấy trộm cắp được tổng số 250.700.000 đồng (gồm 04 cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng, mỗi cọc là 50.000.000 đồng; 02 cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng, mỗi cọc là 20.000.000 đồng; 01 cọc tiền có 87 tờ mệnh giá 100.000 đồng; 10 phong bì lì xì mỗi phong bì có 200.000 đồng).
Đến ngày 23/3/2024, N đi đến nhà anh trai là Ngô Văn K gửi số tiền 140.000.000 đồng. N nói với anh K là tiền của N và nhờ anh K giữ hộ khi nào cần thì N sẽ đến lấy. Số tiền còn lại thì N cất giấu tại nhà.
Buổi sáng ngày 20/3/2024, ông Vũ Xuân V là bảo vệ Sở Xây dựng tỉnh B phát hiện Sở Xây dựng bị trộm cắp tài sản nên trình báo. Kết quả khám nghiệm hiện trường: Sở xây dựng tỉnh B xây 04 tầng, có 03 phòng làm việc trên tầng 02 và 01 phòng trên tầng 03 bị cạy phá cửa gỗ. Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 điếu thuốc lá đã sử dụng tại chậu đá trong phòng giám đốc tại tầng 02. Ngày 24/3/2024, Cơ quan điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Ngô Đình N và thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max lắp sim số 0366.743.992. Ngày 24/3/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Đình N đã thu giữ: 01 ba lô bằng vải màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model 1280, màu xanh - đen, số seri: 359751048024124, không lắp sim; 04 chiếc găng tay vải màu đen, cổ tay có viền đỏ; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 chiếc cờ-lê bằng kim loại màu trắng dài 40cm, trên thân có chữ và số “18”- 450mm”; 02 tô vít bằng kim loại dài 35,5cm, tay cầm bọc nhựa, trên tay cầm có chữ “Kapusi”, đầu tô vít dẹt, tiết diện nhỏ nhất 0,8cm, tiết diện lớn nhất 1,1cm; 01 tô vít bằng kim loại dài 21,5 cm, đầu tô vít có 04 cạnh, tay cầm bọc nhựa màu đen - cam, trên tay cầm có chữ “Kapusi”; 01 kìm cầm tay bằng kim loại dài 16cm, tay cầm bọc nhựa màu đen - cam, trên tay cầm có chữ “Asaki”; 01 đoạn xà cầy bằng kim loại đã han gỉ dài 24,5 cm, một đầu tròn tiết diện 1,6cm, một đầu dẹt tiết diện 3,3 cm; 01 đoạn xà cầy bằng kim loại đã han gỉ dài 16,5 cm, một đầu tròn tiết diện 1,6cm, một đầu uốn cong dạng mỏ nhổ đinh; 01 ống kim loại màu trắng dài 17 cm, một đầu có rãnh xoắn bên trong; 01 ống kim loại màu trắng dài 38 cm, một đầu có rãnh xoắn bên ngoài; 01 bình xịt hơi cay màu đen màu đen, trên bình có chữ “TAKE DOWN”, dung tích 470ml; 01 áo vải dài tay màu đen, có mũ trùm đầu, trước ngực trái có chữ “Adidas” màu trắng, hai bên vai áo mỗi bên có 03 sọc trắng; số tiền 108.700.000 đồng (gồm 02 tập tiền, mỗi tập có 100 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 tập tiền gồm 87 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng); số tiền 4.330.000 đồng; 01 áo khoác phao dài tay màu trắng, có gắn mác “MK CLEVER; 01 mũ lưỡi trai, trên mũ có chữ “M” màu ghi; 01 túi vải hình chữ nhật màu đen, kích thước 27 x 18 cm, có dây đeo bằng vải màu đen, trên dây có chữ “THỦ ĐÔ VÀNG”, trong túi xách có số tiền 2.100.000 đồng; 01 hộp nhựa màu đen, bên trong có 01 súng bắn điện; 01 đôi giày thể thao vải màu đen loại có dây buộc, trên giày có chữ “Biti's Hunter”, size 40 (N khai nhận là trang phục và công cụ sử dụng khi đi trộm cắp tại Sở xây dựng tỉnh B). Ngày 27/3/2024, anh Ngô Văn K giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 140.000.000 đồng gồm 180 tờ mệnh giá 500.000 đồng. Đây là số tiền mà N đã gửi anh K vào ngày 23/3/2024
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định ADN trên vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng Long thu giữ tại hiện trường. Kết luận giám định số 2150/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của V1 - Bộ C2 kết luận: “1. Trên vỏ đầu lọc thuốc lá gửi giám định có bám dính tế bào của một người nam giới. 2. Lưu kiểu gen (ADN) của người nam giới kể trên tại V1 Bộ C2”
Kết luận giám định số 4465/KL-KTHS ngày 10/7/2024 của V1 - Bộ C2 kết luận: “Kiểu gen phân tích được từ mẫu tóc ghi thu của Ngô Đình N gửi giám định trùng hoàn toàn với kiểu gen của người nam giới đã được lưu tại V1 Bộ C2 theo Kết luận giám định số 2150/KL-KTHS ngày 15/4/2024.”
Cơ quan điều tra đã thu giữ và trưng cầu giám định các file video tại khu vực xung quanh hiện trường ghi lại diễn biến vụ việc. Kết luận giám định số 1568/KL-KTHS ngày 17/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận: “1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video lưu trong 03 đĩa DVD – R ký hiệu A1, A2, A3 gửi giám định. 2. Không xác định được 03 file video lần lượt có tên: “Kênh 3”, “Kênh 7.1”, “Kênh 7.2” có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không do tốc độ phát hình ảnh video không ổn định.”
Cơ quan điều tra đã cho bị cáo N quan sát các file video nêu trên. Kết quả, N xác định có hình ảnh N trèo qua tường đột nhập vào sân Sở Xây dựng tỉnh B lúc 00 giờ 29 phút ngày 20/3/2024; hình ảnh N đi lên tầng 02 dùng tô vít cạy cửa để trộm cắp tài sản; hình ảnh N trèo qua tường đi ra ngoài sau khi đã trộm cắp. Cơ quan điều tra đã cho N thực nghiệm điều tra tại hiện trường, kết quả N thực hiện thuần thục các động tác trèo vào sân, sử dụng tô vít cạy cửa tầng 01 đi lên tầng 02 và dùng tô vít cạy khóa cửa, vào trong phòng lục tìm tài sản trộm cắp; vứt điều thuốc lá vào chậu đá phòng giám đốc; cạy phá cửa phòng làm việc của anh Nguyễn Huy C1 rồi trộm cắp tiền sau đó đi xuống tầng 1 trèo tường đi ra ngoài như đã khai. Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max thu giữ của N thấy tại tại thư mục ảnh đã xoá có ảnh chụp kết quả tìm kiếm Googole Map để tìm đường đến thành phố B ngày 18/3/2024. Ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra đã cho anh Đặng Văn L1 nhận dạng ảnh Ngô Đình N, kết quả anh L1 nhận đúng ảnh và xác định N thuê xe taxi từ đường G, thành phố Hà Nội đi đến thành phố B.
Tại bản Cáo trạng số 155/CT-VKS ngày 31/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Ngô Đình N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- - Bị cáo N trình bày: Nội dung, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng nêu là đúng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo trộm cắp của anh Nguyễn Huy C1 tổng số tiền 250.700.000 đồng, anh C1 đã nhận lại đủ số tiền này. Số tiền 140.000.000 đồng bị cáo mang đến nhà anh K gửi ngày 23/3/2024 là tiền bị cáo trộm cắp của anh C1, khi gửi anh K bị cáo nói là tiền làm ăn có được, không nói cho anh K biết đây là tiền do trộm cắp mà có. Số tiền 4.430.000 đồng hiện đang bị tạm giữ là tiền bị cáo làm ăn tích cóp được, bị cáo đề nghị được trả lại. 02 chiếc điện thoại đang bị tạm giữ là điện thoại bị cáo sử dụng để truy cập ứng dụng tìm đường bằng Google Map đến Sở X và sử dụng để gọi điện thuê xe taxi đi từ Hà Nội đến Bắc Giang để trộm cắp và từ Bắc Giang về Hà Nội sau khi trộm cắp, bị cáo xác định đây là 02 chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- - Ông Nguyễn Trung Đ trình bày: Bị cáo N khi vào Sở Xây dựng tỉnh B trộm cắp tài sản có trộm cắp được của anh Nguyễn Huy C1 một khoản tiền, đồng thời làm hư hỏng một số cánh cửa và khoá phòng. Sau khi sự việc xảy ra, anh C1 đã được Cơ quan Điều tra trả lại đủ số tiền bị N trộm cắp; Sở Xây dựng tỉnh B đã sửa chữa các cánh cửa và khoá cửa bị hỏng, tổng chi phí sửa chữa là 1.700.000 đồng. Nay Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường chi phí sửa chữa.
- - Anh Ngô Văn K trình bày: Ngày 23/3/2024 bị cáo N có gửi anh số tiền 140.000.000 đồng, N nhờ anh giữ hộ khi nào cần thì sẽ đến lấy. Anh không biết đây là tiền bị cáo N trộm cắp có được. Sau khi hành vi của N bị phát hiện, anh đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Điều tra toàn bộ số tiền này.
- * Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, không ai có ý kiến gì đối với các lời khai được công bố.
- * Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Đình N từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 24/3/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Trả lại bị cáo N số tiền 4.430.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- + Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model 1280, màu xanh - đen, số seri: 359751048024124 không lắp sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max lắp sim số 0366.743.992
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 ba lô bằng vải màu đen; 04 chiếc găng tay vải màu đen, cổ tay có viền đỏ; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 chiếc cờ-lê bằng kim loại màu trắng dài 40cm, trên thân có chữ và số “18”- 450mm”; 02 tô vít bằng kim loại dài 35,5cm, tay cầm bọc nhựa, trên tay cầm có chữ “Kapusi”, đầu tô vít dẹt, tiết diện nhỏ nhất 0,8cm, tiết diện lớn nhất 1,1cm; 01 tô vít bằng kim loại dài 21,5cm, đầu tô vít có 04 cạnh, tay cầm bọc nhựa màu đen - cam, trên tay cầm có chữ “Kapusi”; 01 kìm cầm tay bằng kim loại dài 16cm, tay cầm bọc nhựa màu đen - cam, trên tay cầm có chữ “Asaki”; 01 đoạn xà cầy bằng kim loại đã han gỉ dài 24,5cm, một đầu tròn tiết diện 1,6cm, một đầu dẹt tiết diện 3,3cm; 01 đoạn xà cầy bằng kim loại đã han gỉ dài 16,5cm, một đầu tròn tiết diện 1,6cm, một đầu uốn cong dạng mỏ nhổ đinh; 01 ống kim loại màu trắng dài 17cm, một đầu có rãnh xoắn bên trong; 01 ống kim loại màu trắng dài 38cm, một đầu có rãnh xoắn bên ngoài; 01 bình xịt hơi cay màu đen màu đen, trên bình có chữ “TAKE DOWN”, dung tích 470ml; 01 áo vải dài tay màu đen, có mũ trùm đầu, trước ngực trái có chữ “Adidas” màu trắng, hai bên vai áo mỗi bên có 03 sọc trắng; 01 áo khoác phao dài tay màu trắng, có gắn mác “MK CLEVER; 01 mũ lưỡi trai, trên mũ có chữ “M” màu ghi; 01 túi vải hình chữ nhật màu đen, kích thước 27x18cm, có dây đeo bằng vải màu đen, trên dây có chữ “THỦ ĐÔ VÀNG”; 01 hộp nhựa màu đen, bên trong có 01 súng bắn điện; 01 đôi giày thể thao vải màu đen loại có dây buộc, trên giày có chữ “Biti's Hunter", size 40.
- - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
- * Không ai có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
- * Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi này đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại (anh Nguyễn Huy C1) và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Nguyễn Thị L, ông Vũ Xuân V, chị Đoàn Thị Thu Q, ông Nguyễn Việt P, ông Lê Quang M và ông Nguyễn Văn N1) vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Văn T, anh Đặng Văn L1 và anh Nguyễn Đức Đ1) vắng mặt không có lý do. Những người vắng mặt đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
- Về hành vi của bị cáo: Căn cứ đơn trình báo của bị hại, các biên bản xác định hiện trường; căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên toà và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Lời khai của bị cáo là thống nhất với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, loại tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20/3/2024, bị cáo Ngô Đình N đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản, lén lút đột nhập vào Sở Xây dựng tỉnh B cậy cửa các phòng làm việc để trộm cắp tài sản. Bị cáo vào phòng làm việc của anh Nguyễn Huy C1 trộm cắp được tổng số tiền 250.700.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu, bẩy trăm nghìn đồng). Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi trộm cắp số tiền 250.700.000 đồng của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh theo điểm, khoản, điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 14/8/2020 bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2021. Ngày 25/9/2021 (bị cáo chưa được xoá án tích) bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá đã xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 32/2021/HS-ST ngày 16/12/2021), bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 26/3/2023. Vì vậy, lần thực hiện hành vi phạm tội ngày 25/9/2021 thuộc trường hợp tái phạm quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Ngày 20/3/2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự, lần thực hiện hành vi phạm tội ngày 20/3/2024 thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người đã có 02 (hai) tiền án và nhân thân xấu, ngày 14/8/2020 bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 16/12/2021 bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 29/10/2021 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
- Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo và cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo với mức hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo để vừa có tác dụng giáo dục cải tạo riêng, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước, xong Hội đồng xét xử thấy trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, không có công ăn việc làm ổn định, thu nhập rất thấp nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.
- Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật thu giữ:
- [10.1] Căn cứ vào điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo số tiền 4.430.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- [10.2] Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model 1280, màu xanh - đen, số seri: 359751048024124 không lắp sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max lắp sim số 0366.743.992 là điện thoại bị cáo N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- [10.3] Đối với: 01 ba lô bằng vải màu đen; 04 chiếc găng tay vải màu đen, cổ tay có viền đỏ; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 chiếc cờ-lê bằng kim loại màu trắng dài 40cm, trên thân có chữ và số “18”- 450mm”; 02 tô vít bằng kim loại dài 35,5cm, tay cầm bọc nhựa, trên tay cầm có chữ “Kapusi”, đầu tô vít dẹt, tiết diện nhỏ nhất 0,8cm, tiết diện lớn nhất 1,1cm; 01 tô vít bằng kim loại dài 21,5cm, đầu tô vít có 04 cạnh, tay cầm bọc nhựa màu đen - cam, trên tay cầm có chữ “Kapusi”; 01 kìm cầm tay bằng kim loại dài 16cm, tay cầm bọc nhựa màu đen - cam, trên tay cầm có chữ “Asaki”; 01 đoạn xà cầy bằng kim loại đã han gỉ dài 24,5cm, một đầu tròn tiết diện 1,6cm, một đầu dẹt tiết diện 3,3cm; 01 đoạn xà cầy bằng kim loại đã han gỉ dài 16,5cm, một đầu tròn tiết diện 1,6cm, một đầu uốn cong dạng mỏ nhổ đinh; 01 ống kim loại màu trắng dài 17cm, một đầu có rãnh xoắn bên trong; 01 ống kim loại màu trắng dài 38cm, một đầu có rãnh xoắn bên ngoài; 01 bình xịt hơi cay màu đen màu đen, trên bình có chữ “TAKE DOWN”, dung tích 470ml; 01 áo vải dài tay màu đen, có mũ trùm đầu, trước ngực trái có chữ “Adidas” màu trắng, hai bên vai áo mỗi bên có 03 sọc trắng; 01 áo khoác phao dài tay màu trắng, có gắn mác “MK CLEVER; 01 mũ lưỡi trai, trên mũ có chữ “M” màu ghi; 01 túi vải hình chữ nhật màu đen, kích thước 27x18cm, có dây đeo bằng vải màu đen, trên dây có chữ “THỦ ĐÔ VÀNG”; 01 hộp nhựa màu đen, bên trong có 01 súng bắn điện; 01 đôi giày thể thao vải màu đen loại có dây buộc, trên giày có chữ “Biti's Hunter”, size 40 là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự
- Về các vấn đề khác có liên quan:
- [14.1] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Huy C1 đã được Cơ quan điều tra trả lại số tiền bị trộm cắp 250.700.000 đồng do thu giữ được của bị cáo N và anh K giao nộp. Đến nay anh C1 không yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- [14.2] Anh Ngô Văn K cho bị cáo Ngô Đình N gửi số tiền 140.000.000 đồng nhưng không biết đây là tài sản do N trộm cắp mà có, anh Đặng Văn L1 lái xe taxi chở N từ Hà Nội đến thành phố B và anh Nguyễn Đức Đ1 lái xe taxi chở N từ thành phố B đến Hà Nội nhưng đều không biết N trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
- [14.3] Đối với thiệt hại của các cánh cửa và khoá cửa: Tổng chi phí Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang sửa chữa các cánh cửa và khoá bị hư hỏng là 1.700.000 đồng. Nay Sở Xây dựng tỉnh Bắc Giang không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường chi phí sửa chữa nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- [14.4] Đối với khẩu súng bắn điện thu giữ tại nhà bị cáo Ngô Đình N: Kết luận giám định số 1618/KL-KTHS ngày 23/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận là súng điện, thuộc công cụ hỗ trợ, không thuộc vũ khí quân dụng. Công an thành phố B đã đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332; khoản 1, khoản 3 Điều 333; điểm a, c khoản 2 và a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Đình N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
- Về xử lý vật chứng:
- [2.1] Trả lại bị cáo số tiền 4.430.000 đồng (Bốn triệu, bốn trăm ba mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- [2.2] Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model 1280, màu xanh-đen, số seri: 359751048024124 không lắp sim và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max lắp sim số 0366.743.992
- [2.3] Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) ba lô bằng vải màu đen; 04 (bốn) chiếc găng tay vải màu đen, cổ tay có viền đỏ; 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 (một) chiếc cờ-lê bằng kim loại màu trắng dài 40cm, trên thân có chữ và số “18”- 450mm”; 02 (hai) tô vít bằng kim loại dài 35,5cm, tay cầm bọc nhựa, trên tay cầm có chữ “Kapusi”, đầu tô vít dẹt, tiết diện nhỏ nhất 0,8cm, tiết diện lớn nhất 1,1cm; 01 (một) tô vít bằng kim loại dài 21,5 cm, đầu tô vít có 04 cạnh, tay cầm bọc nhựa màu đen - cam, trên tay cầm có chữ “Kapusi”; 01 (một) kìm cầm tay bằng kim loại dài 16cm, tay cầm bọc nhựa màu đen cam, trên tay cầm có chữ “Asaki”; 01 (một) đoạn xà cầy bằng kim loại đã han gỉ dài 24,5 cm, một đầu tròn tiết diện 1,6cm, một đầu dẹt tiết diện 3,3 cm; 01 (một) đoạn xà cầy bằng kim loại đã han gỉ dài 16,5 cm, một đầu tròn tiết diện 1,6cm, một đầu uốn cong dạng mỏ nhổ đinh; 01 (một) ống kim loại màu trắng dài 17 cm, một đầu có rãnh xoắn bên trong; 01 (một) ống kim loại màu trắng dài 38 cm, một đầu có rãnh xoắn bên ngoài; 01 (một) bình xịt hơi cay màu đen màu đen, trên bình có chữ “TAKE DOWN”, dung tích 470ml; 01 (một) áo vải dài tay màu đen, có mũ trùm đầu, trước ngực trái có chữ “Adidas” màu trắng, hai bên vai áo mỗi bên có 03 sọc trắng; 01 (một) áo khoác phao dài tay màu trắng, có gắn mác “MK CLEVER; 01 (một) mũ lưỡi trai, trên mũ có chữ “M” màu ghi; 01 (một) túi vải hình chữ nhật màu đen, kích thước 27 x 18 cm, có dây đeo bằng vải màu đen, trên dây có chữ “THỦ ĐÔ VÀNG”; 01 (một) hộp nhựa màu đen, bên trong có 01 (một) súng bắn điện và 01 (một) đôi giày thể thao vải màu đen loại có dây buộc, trên giày có chữ “Biti's Hunter”, size 40.
- Về án phí: Bị cáo Ngô Đình N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 116/QĐ-VKS ngày 31/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan |
Bản án số 169/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 169/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
