Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:169/2024/HSST

Ngày: 18-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Và Dưỡng và bà Trần Thị Hoa.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại Phòng xét xử B - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, hình thức xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 183/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại các điểm cầu:

  1. Điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Đ gồm có:

    Bùi Tá N, sinh năm 1969 tại Quảng Ngãi (có mặt)

    Nơi cư trú: số H, Đặng Văn N1, phường E, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Nơi ở hiện nay: khu phố H, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Tá S (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); anh chị em ruột 08 người, bị cáo là con thứ 8; Vợ: Nguyễn Vũ Thanh T1, sinh năm 1967, có 01 con sinh năm 1999. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt truy nã, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2022 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đ cho đến nay.

  2. Điểm cầu trung tâm: Hội trường B – Tòa án nhân dân huyện Định Quán gồm có:
    • Bị hại: Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1957 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
    • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lý Thị Ý C, sinh năm 1969 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Tá N, sinh năm 1969 và Nguyễn Vũ Thanh T1, sinh năm 1967, cùng trú tại ấp D, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai là vợ chồng của nhau.

Vào ngày 17/01/2007, N và T1 có mua căn nhà cấp 4 diện tích 217m2 của ông Phạm Quang B, trú tại ấp D, xã L, huyện Đ. Nang và T1 ra UBND xã L làm hợp đồng mua bán căn nhà trên với ông B và đặt cọc số tiền 250.000.000 đồng cho vợ chồng ông B. Tuy nhiên, do tiền đặt cọc là tiền mượn của ông Nguyễn Văn C1 và bà Lý Thị Ý C, cùng trú tại ấp A, xã P, huyện Đ nên N và T1 không có đủ tiền để mua. Lúc này, N và T1 không mua nữa mà làm thủ tục hủy hợp đồng, đồng thời sang hợp đồng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn C1 và bà Lý Thị Ý C. Tuy nhiên, sau khi sang hợp đồng thì N và T1 vẫn xin ở lại căn nhà chứ không giao nhà cho ông C1 và bà C. Đến ngày 05/02/2008, T1 và N mặc dù không phải chủ sở hữu của căn nhà nêu trên nhưng đã lừa bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1957, trú tại ấp B, xã P, huyện Đ để bán nhà nêu trên cho bà S1 bằng giấy tay với số tiền 300.000.000đồng rồi chiếm đoạt sử dụng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ, Bùi Tá N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Tài sản thiệt hại:

Số tiền Bùi Tá N và Nguyễn Vũ Thanh T1 chiếm đoạt của bà Ngô Thị S2 là 300.000.000 đồng.

Theo cáo trạng số 134/CT-VKSÐQ ngày 10/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Bùi Tá N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 3, Điều 174; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo N mức án từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Ngô Thị S2 yêu cầu Bùi Tá N phải bồi thường số tiền là 300.000.000đồng là có căn cứ. Buộc bị cáo N phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà S2 là 300.000.000đồng.

+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Vào ngày 05/02/2008, Bùi Tá N và Nguyễn Vũ Thanh T1 mặc dù không phải chủ sở hữu của căn nhà tại ấp D, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, nhưng đã lừa bà Nguyễn Thị S1 để bán nhà nêu trên cho bà S1 rồi chiếm đoạt số tiền 300.000.000đồng. Hành vi của N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là đúng người đúng tội.

[2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Căn cứ quyết định hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã ý thức được tài sản không thuộc quyền sở hữu sử dụng của mình nhưng đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền của bị hại và bỏ trốn, bị truy nã. Do đó, cần phải có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên do bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ như trên nên xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[5] Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác:

Trách nhiệm dân sự:

Bà Ngô Thị S2 yêu cầu Bùi Tá N phải bồi thường số tiền là 300.000.000đồng là có căn cứ. Chính vì vậy buộc bị cáo N phải bồi thường thiệt hại tài sản cho bà S2 là 300.000.000đồng.

- Về các vấn đề khác:

Đối với việc bị cáo Bùi Tá N và Nguyễn Vũ Thanh T1 vay và chiếm đoạt của 22 hộ dân với số tiền là 3.859.297.000 đồng, 8.000USD, 25 chỉ vàng sau đó đã bỏ trốn. Ngày 24/11/2008, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ, đã ra Quyết định khởi tố bị cáo đối với Bùi Tá N và Nguyễn Vũ Thanh T1, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, do đó án thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố và xét xử của cấp tỉnh.

Ngày 25/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ đã có Công văn số 4104/CSHS-Đ4 gửi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai trao đổi quan điểm giải quyết vụ án hình sự nói trên.

Ngày 09/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã có Công văn số 576/VKS-P2 gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ thống nhất về việc: chưa đủ căn cứ xác định Bùi Tá N và Nguyễn Vũ Thanh T1 có hành vi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản theo yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ngày 12/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ đã có Công văn số 5525/CSHS-Đ4 gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ cho quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ điểm d, khoản 2, Điều 2, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung quy định hành vi theo Bộ luật hình sự năm 1999 là tội phạm nhưng do có sửa đổi bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can Bùi Tá N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 và tách ra chuyển Tòa án nhân dân huyện Định Quán để giải quyết theo tố tụng dân sự.

Đối với số tiền 24.364.800 đồng là tiền trợ cấp nghỉ việc một lần của bị can Nguyễn Vũ Thanh T1 do Trường Tiểu học L giao nộp cho Cơ quan điều tra vào

ngày 01/12/2008, do bị can T1 nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đ số tiền 22.494.000 đồng, nên ngày 16/02/2019, Cơ quan điều tra đã trao trả số tiền trêm cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đ (bút lục số 110). Còn lại 1.870.000 đồng, Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị cáo N (gửi lưu ký tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Đ.

Do hành vi phạm tội xảy ra ngày 05/02/2008, là trước 0 giờ ngày 01/01/2018, tuy nhiên tại điểm a, khoản 3, Điều 139 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2009) và điểm a, khoản 3, Điều 174 Bộ luật hình sự 2015(được sửa đổi bổ sung năm 2017) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định thì số tiền định khung hình phạt và mức hình phạt là ngang nhau. Vì vậy áp dụng điểm a, khoản 3, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH17 của UBTVQH để xét xử đối với bị cáo.

[6] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 15.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là 15.200.000đồng.

[8] Xét quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 2, Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Điểm a, khoản 3, Điều 174; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nghị quyết số 41/2017/QH17 của UBTVQH. Điều 584, 585, 586, 588, 589, Điều 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Điểm a, khoản 1, Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14;
  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Tá N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    1. Xử phạt bị cáo Bùi Tá N 10 (M) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/09/2022.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Bùi Tá N phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Nguyễn Thị S1 số tiền là 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng).
  3. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quanthi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơnyêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trảcho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành áncòn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suấtquy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí: Bị cáo Bùi Tá N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là 15.200.000đồng (Mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại bà S1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà C vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán;
  • - CQCSĐT Công an huyện Định Quán;
  • - CQ THA hình sự Công an huyện Định Quán;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/HSST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 169/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bui Ta N - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger