Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 169/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 10 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Việt Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Thanh Bình

Bà Vũ Thị Kim Dung

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Huệ – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà:

Bà Vũ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại Hội trường Nhà Văn hóa thôn Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 158/2024/HS-ST ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 175/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Đỗ Xuân B, sinh năm 1976 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố Q, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đỗ Trọng H (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Mai Thị Thanh H2 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 100/HSST ngày 21/8/2014, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Đỗ Xuân B 02 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. B chấp hành án xong, ra trại ngày 02/4/2016. Về án phí hình sự sơ thẩm, B đã thi hành xong vào tháng 10/2014. Về hình phạt bổ sung số tiền 5.000.000đ, ngày 26/11/2018, B đã nộp 100.000đ, số tiền còn lại 4.900.000đ, B được miễn giảm và đình chỉ thi hành án tại Quyết định đình chỉ số 04 ngày 06/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 123/HSST ngày 15/10/2018, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Đỗ Xuân B 03 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. B chấp hành án xong, ra trại ngày 04/8/2021. Về án phí hình sự sơ thẩm, B đã thi hành xong vào tháng 11/2018.

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ - XPVPHC ngày 31/12/2021 của Công an thành phố V xử phạt Đỗ Xuân B về hành vi Đánh bạc, hình thức phạt tiền, mức phạt 200.000đ. Ngày 04/01/2022, B đã chấp hành nộp phạt xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt.

Phùng Thế H3, sinh năm 1995 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ tại Đảng bộ xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; con ông Phùng Văn H4 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ là Lê Nhật H5 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt.

Người làm chứng: Trần Đình T1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/4/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Phùng Thế H3 sử dụng điện thoại di động số 0583.494.xxx gọi đến số điện thoại 0974.466.xxx của Đỗ Xuân B, để hỏi mua 500.000đ ma túy đá và ma túy ngựa, B đồng ý bảo H3 chuyển tiền trước. Sau đó, H3 sử dụng số tài khoản 0361000302539 Ngân hàng TMCP N chuyển khoản số tiền 500.000đ vào số tài khoản 9974466997 của B tại Ngân hàng TMCP N. Khi nhận được tiền, B bảo H3 đi đến khu vực gần nhà nghỉ T3, phường H, thành phố V để giao dịch mua bán ma túy. H3 một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88B1 - 166.65 đến điểm hẹn gặp B, khi gặp nhau B đưa cho H3 01 túi nilon chứa ma túy đá và ma túy ngựa. H3 cất gói ma túy B đưa vào túi quần bên phải phía trước chiếc quần H3 đang mặc rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi vắng người để sử dụng ma túy. Khi H3 đi đến đường L thuộc tổ dân phố (TDP) T, phường T, thành phố V thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh V kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại túi quần bên phải phía trước chiếc quần H3 đang mặc 01 túi nilon bên trong chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng và 02 viên nén màu đỏ, một mặt của mỗi viên nén có in ký tự “WY”. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong vào một phong bì thư kí hiệu Al theo đúng quy định pháp luật và tạm giữ của H3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88B1-166.65 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (đều đã qua sử dụng).

Ngày 24/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã tiến hành xác minh, triệu tập Đỗ Xuân B, sinh năm 1976 ở TDP Q, phường H, thành phố V để lấy lời khai. Quá trình làm việc Đỗ Xuân B khai nhận, ngày 23/4/2024 đã bán trái phép 01 túi ma túy cho Phùng Thế H3 và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V các vật chứng gồm: 01 túi nilon bên trong chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng và một viên nén màu hồng, trên một mặt của viên nén có in ký tự “WY” (B khai nhận đây là túi ma túy đá và ma túy ngựa của B cất giấu mục đích để bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời), được niêm phong vào một phong bì giấy ký hiệu B2 theo đúng quy định pháp luật. Tạm giữ của B 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, vỏ màu đen, đã cũ. Cùng ngày 24/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Xuân B tại TDP Q, phường H, thành phố V. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật gì.

Ngày 24/4/2024, tại Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tinh Vĩnh Phúc kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Phùng Thế H3 có số thuê bao 0583494444. Kết quả: Tại mục nhật ký cuộc gọi có 101 cuộc gọi bao gồm cuộc gọi đến, cuộc gọi đi, cuộc gọi nhỡ đến số điện thoại của H3 và các cuộc gọi từ ứng dụng Zalo, Facebook M, từ ngày 18/4/2024 đến ngày 23/4/2024. Trong đó có các cuộc gọi liên lạc với số điện thoại 0974.466.xxx (lúc 20 giờ 50 phút ngày 23/4/2024 cuộc gọi bị hủy và lúc 20 giờ 54 phút ngày 23/4/2024 thời lượng 17 giây). Phùng Thế H3 trình bày đây là số điện thoại của Bình bán ma túy cho H3 ngày 23/4/2024. Kiểm tra ứng dụng VCB D có đăng nhập tài khoản ngân hàng của Phùng Thế H3 tại Ngân hàng V, số tài khoản 0361000303539. Tại mục lịch sử giao dịch có 01 giao dịch vào 20 giờ 49 phút ngày 23/4/2024, tài khoản thụ hưởng 9974466997, người thụ hưởng DO XUAN BINH, nội dung “3 nuoc 2 ma", số tiền 500.000đ. Phùng thế H3 trình bày đây là giao dịch chuyển tiền mua ma túy cho B. Nội dụng “3 nuoc 2 ma" là 300.000 đồng ma tuý đá và 200.000 đồng ma tuý ngựa. Cùng ngày, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh V điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đỗ Xuân B có số thuê bao sim 1: 0974466997, số thuê bao sim 2: 0876625588 ngày 24/4/2024 tại Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh V. Kết quả: Tại mục cuộc gọi đi có tất cả 1299 cuộc gọi đi, đến và cuộc gọi nhỡ của B. Trong đó có cuộc gọi đến của số thuê bao 0583494444 (lúc 20 giờ 54 phút ngày 23/4/2024 thời lượng 17 giây). Đỗ Xuân B trình bày đây là số điện thoại của H3 gọi đến mua ma túy ngày 23/4/2024. Kiểm tra ứng dụng VCB D có đăng nhập tài khoản ngân hàng của Đỗ Xuân B tại Ngân hàng V, số tài khoản 9974466997. Tại mục lịch sử giao dịch có 01 giao dịch vào ngày 23/4/2024, tài khoản chuyển đến 0361000303539, nội dung 3 nuoc 2 ma, số tiền 500.000đ. Đỗ Xuân B trình bày đây là giao dịch chuyển tiền của người mua ma túy tới tài khoản của B. Nội dụng “3 nuoc 2 ma” là 300.000 đồng ma túy đá và 200.000 đồng ma túy ngựa.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V ra Quyết định trưng cầu giám định số 1011 ngày 23/4/2024 và Quyết định số 1020 ngày 24/4/2024, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V, giám định chất ma túy đã thu giữ của Phùng Thế H3 trong 01 phong bì được niêm phong ký hiệu A1 và số ma túy đã thu giữ của Đỗ Xuân B được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu B1.

Tại Kết luận giám định số 1148 ngày 28/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:

  1. “1. Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3846g (Không phảy ba tám bốn sáu gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine.
  2. 2. 02 (hai) viên nén màu đỏ có trong mẫu ký hiệu Al gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,1768g (Không phảy một bảy sảu tám gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine. Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu tại Phòng K - Công an tỉnh V, gồm: A1 = 0,3158 gam mẫu tinh thể dạng đá + 0,1157 gam mẫu viên nén và toàn bộ bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ 1053"

Tại Kết luận giám định số 1149 ngày 28/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:

  1. “1. Một viên nén màu đỏ có trong mẫu ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,0730g (Không phảy không bảy ba không gam, không kể bao bì).
  2. 2. Tinh thể màu trắng có trong mẫu ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4184g (Không phảy bốn tám một tám bốn gam). Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu tại Phòng K - Công an tỉnh V, gồm: B1 (tinh thể) = 0,366 gam, B1 (viên nén) màu đỏ = 0,00 gam và toàn bộ bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 1061/2024"

Cơ quan điều tra Công an thành phố V đã thông báo các kết luận giám định cho bị can Đỗ Xuân B và Phùng Thế H3 biết. Bị cáo B và H3 không có ý kiến thắc mắc gì.

Ngày 19/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V có Công văn số 1263 đề nghị Công ty Cổ phần V1 cung cấp thông tin đăng ký của chủ thuê bao số 0583 494 444; thông tin chi tiết cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn đi, tin nhắn đến của số thuê bao trên từ 00 giờ ngày 23/4/2024 đến 24 giờ ngày 23/4/2024. Công ty Cổ phần V1 trả lời: Chủ thuê bao tên Phùng Thế H3, sinh ngày 09/3/1995, tình trạng số thuê bao đã chuyển mạng ngày 22/3/2023. Trong khoảng thời gian yêu cầu, thuê bao trên không phát sinh bất cứ cuộc gọi hay tin nhắn nào (lý do thuê bao đã chuyển mạng).

Ngày 19/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V có Công văn số 1262 đề nghị Tập đoàn C cung cấp thông tin đăng ký của chủ thuê bao số 0974.466.997; thông tin chi tiết cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn đi, tin nhắn đến của số thuê bao trên từ 00 giờ ngày 23/4/2024 đến 24 giờ ngày 23/4/2024. Tại văn bản trả lời của Tập đoàn C xác định: Chủ thuê bao số điện thoại 0974.466.xxx là Đỗ Xuân B, ngày kích hoạt 06/10/2021. Trong lịch sử cuộc gọi đi, gọi đến thể hiện 01 cuộc gọi từ số thuê bao 0583 494 444 của H3 đến số thuê bao 0974.466.997 của B vào lúc 20 giờ 54 phút 36 giây ngày 23/4/2024, thời lượng cuộc gọi 17 giây.

Về nguồn gốc 01 túi ma túy Methamphetamine mà Bình bán cho H3 và 01 túi ma túy Methamphetamine do B tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra, quá trình điều tra B khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 23/4/2024, B đi taxi đến một ngôi nhà trên đường T, phường Đ, thành phố V (không nhớ địa chỉ), chỉ biết ngôi nhà có một ô cửa sổ mở hé, bên trong tắt điện, B nói nhỏ vào bên trong ngôi nhà qua khe cửa sổ hỏi mua 01 túi ma túy đá và ma túy ngựa với giá 500.000đ. Sau đó, bên trong ngôi nhà có giọng nói của một người nam giới bảo B thả tiền vào bên trong nhà, một lúc sau thì đi ra gốc cây sấu gần công trường Tiểu học Ngô Quyền để lấy ma túy. Sau đó, B đi uống nước khoảng 30 phút thì quay lại gốc cây sấu gần trường Tiểu học N1 để lấy ma túy, B lật viên gạch ở gốc cây sấu lên thì thấy 01 túi nilon nhỏ bên trong có chứa ma túy đá và 03 viên ma túy ngựa. B cất túi ma túy rồi thuê xe taxi đi về, khi về nhà B lấy 01 ít ma túy đá và 01 viên ma túy ngựa ra để sử dụng, số ma túy còn lại B cất giấu trong người. Khi B đi mua số ma túy trên và đem về nhà cất giấu thì B không nói cho ai biết, không có ai tham gia thực hiện hành vi phạm tội cùng B. Sau đó, đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày 23/4/2024, H3 gọi điện hỏi mua ma túy nên B đã bán số ma túy còn lại cho H3. Sau khi bán ma túy cho H3, khoảng 13 giờ ngày 24/4/2024, B tiếp tục đi đến ngôi nhà tại đường T, phường Đ, thành phố V, vẫn với phương thức giao dịch mua ma túy như trên, B đã mua được của người nam giới trong ngôi nhà 01 gói ma túy đá và 01 viên ma túy ngựa với giá 300.000đ, B cất giấu túi ma túy trong người mục đích bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Đến chiều ngày 24/4/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh V triệu tập B lên làm việc thì B đã giao nộp gói ma túy vừa mua được để phục vụ công tác điều tra. Đối với người nam giới bên trong ngôi nhà ở đường T, quá trình điều tra B khai nhận qua bạn bè xã hội nói chuyện và chỉ dẫn ở ngôi nhà có cửa sổ mở hé tại khu vực đường T, phường Đ, thành phố V thường có một người nam giới tên T2 Ba sinh sống bên trong ngôi nhà bán ma túy nên ngày 23 và 24/4/2024, B đã đi đến đó để mua ma túy.

Khi trao đổi mua bán ma túy, người nam giới đứng bên trong nhà nên B không biết đặc điểm nhận dạng, họ, tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại của người nam giới đã bán ma túy cho B. Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã xác định được nhân thân lai lịch của người nam giới theo mô tả của B là Đỗ Xuân T2, sinh năm 1973 ở TDP T, phường Đ, thành phố V. Tuy nhiên, cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng đối tượng T2 không có mặt tại địa phương, chính quyền địa phương không biết T2 đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra đã cho B nhận dạng hình ảnh của T2 nhưng B không xác định được. Ngoài lời khai của B, không có tài liệu nào xác định T2 bán ma túy cho B. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an thành phố V tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau. Đối với bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1950, quá trình điều tra xác định: Đỗ Xuân B và bà H1 (là mẹ đẻ của B) sinh sống tại TDP Q, phường H, thành phố V. Bà H1 đã già yếu, không biết việc Bình bán ma túy cho H3 và cất giấu ma túy trong người để bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời, bà H1 không liên quan đến hành vi phạm tội của B. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V không đề cập xử lý. Đối với người nam giới điều khiển xe ô tô taxi chở Đỗ Xuân B đi từ TDP Q, phường H đến đường T, phường Đ, thành phố V để B mua ma túy và người nam giới điều khiển xe ô tô taxi chở B từ đường T, phường Đ về TDP Q, phường H để B cất giấu ma túy bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời, quá trình điều tra B khai: B không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ, BKS xe, hãng xe taxi của hai người nam giới đã chở B đi mua ma túy, trên đường đi B không nói chuyện với những người này về mục đích B đi đâu, làm gì. Do đó, hai người nam giới này không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của B nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố V không đề cập xử lý.

Tại Cáo trạng số 169/CT-VKSND.TPVY ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố Đỗ Xuân B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS 2015); Phùng Thế H3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.

Tại phiên tòa, Đỗ Xuân B và Phùng Thế H3 giữ nguyên lời khai nhận tội ở giai đoạn điều tra. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên công bố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố Đỗ Xuân B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt Đỗ Xuân B từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/4/2024.

Tuyên bố Phùng Thế H3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt Phùng Thế H3 từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/4/2024.

Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu số tiền 500.000đ trong tài khoản 9974466997 của Đỗ Xuân B mở tại Phòng G, Chi nhánh V2 – Ngân hàng Thương mại cổ phần N để sung Ngân sách Nhà nước (Ngày 24/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Lệnh phong tỏa số 509 đối với số tiền 500.000đ trong tài khoản 9974466997 của B). Tịch thu bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Phùng Thế H3 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đỗ Xuân B. Tịch thu tiêu hủy: 0,3158 gam ma túy Methamphetamine và 0,1157 gam mẫu viên nén của mẫu A1; 0,3660 gam ma túy Methamphetamine của mẫu B1 cùng toàn bộ bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy mẫu trả hoàn lại sau giám định. Trả lại Phùng Thế H3 01 xe nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88B1 – 166.65 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì. Trong lời nói sau cùng đều xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng khoan hồng của Pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
  2. [2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản sự việc và vật chứng đã được thu giữ, cũng như kết luận giám định và các tài liệu khác. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 23/4/2024, tại tổ dân phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, Phùng Thế H3 đang có hành vi tàng trữ trái ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,5614 gam để sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật. Căn cứ lời khai của Phùng Thế H3 ngày 24/4/2024, Cơ quan điều tra đã xác định được 23/4/2024, Đỗ Xuân B có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy cho Phùng Thế H3 để kiếm lời, B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội giao nộp ma túy để phục công tác điều tra.

Hành vi của Phùng Thế H3 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249. Hành vi của Đỗ Xuân B đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS. Tội phạm và hình phạt được quy định:

Điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS có quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:..c) Hêroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”

Khoản 1 Điều 251 BLHS có quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt từ 02 năm đến 07 năm”.

Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

  1. [3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực nên cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự.

Về nhân thân, Đỗ Xuân B tuy không có tiền án, tiền sự nhưng đã 02 lần bị kết tội Mua bán trái phép chất ma túy vào năm 2014 và 2018. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo là người có thái độ coi thường luật pháp. Đối với Phùng Thế H3 là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự nhưng lối sống không lành mạnh dẫn đến sa ngã vào tệ nạn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đều được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Riêng bị cáo H3 còn có ông nội là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương, bản thân bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự với Nhà nước nên được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 của Điều 51 BLHS. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

  1. [4] Về hình phạt chính, Hội đồng xét xử xem xét dựa trên tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Để giáo dục bị cáo biết nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cần thiết phải áp dụng phạt tù tại trại giam để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và răn đe tội phạm. Với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ cần chấp nhận.
  2. [5] Về phạt bổ sung: Hai bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không phạt tiền bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS 2015 là có căn cứ, cần chấp nhận.
  3. [6] Về nguồn gốc ma túy và các đối tượng có liên quan trong vụ án:

Về nguồn gốc ma túy Methamphetamine mà Bình bán cho H3 và giao nộp cho cơ quan điều tra, B khai nhận mua từ một người đàn ông ở trong ngôi nhà không nhớ rõ địa chỉ trên đường T, phường Đ, thành phố V. Cơ quan điều tra đã xác minh về người nam giới thường gọi tên là T2 Ba sinh sống bên trong ngôi nhà bán ma túy. Nhưng vì người này thường đứng bên trong nhà nên B không biết đặc điểm nhận dạng. Cơ quan điều tra đã xác định nhân thân lai lịch của nam giới có tên Đỗ Xuân T2, sinh năm 1973 ở TDP T, phường Đ, thành phố V. Tuy nhiên, cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng đối tượng T2 không có mặt tại địa phương, chính quyền địa phương không biết T2 đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra đã cho B nhận dạng hình ảnh của T2 nhưng B không xác định được. Ngoài lời khai của B, không có tài liệu nào xác định T2 bán ma túy cho B. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an thành phố V tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau

Đối với bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1950, quá trình điều tra xác định: Đỗ Xuân B và bà H1 (là mẹ đẻ của B) sinh sống tại TDP Q, phường H, thành phố V. Bà H1 đã già yếu, không biết việc Bình bán ma túy cho H3 và cất giấu ma túy trong người để bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời, bà H1 không liên quan đến hành vi phạm tội của B. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V không đề cập xử lý.

Đối với người nam giới điều khiển xe ô tô taxi chở Đỗ Xuân B đi từ TDP Q, phường H đến đường T, phường Đ, thành phố V để B mua ma túy và người nam giới điều khiển xe ô tô taxi chở B từ đường T, phường Đ về TDP Q, phường H để B cất giấu ma túy bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời, quá trình điều tra B khai: B không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ, BKS xe, hãng xe taxi của hai người nam giới đã chở B đi mua ma túy, trên đường đi B không nói chuyện với những người này về mục đích B đi đâu, làm gì. Do đó, hai người nam giới này không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của B nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố V không đề cập xử lý là có căn cứ.

  1. [7] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với số tiền 800.000₫ mà Đỗ Xuân B sử dụng để mua ma túy ngày 23 và 24/4/2024, cơ quan điều tra đã làm rõ đây là tiền hợp pháp của B do lao động mà có nhưng không thu giữ được nên không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với số tiền 500.000đ đã bị phong tỏa trong tài khoản 9974466997 của Đỗ Xuân B mở tại Phòng G của Ngân hàng Thương mại cổ phần N, chi nhánh V2. Cơ quan điều tra đã làm rõ, đây là tiền có được do H3 chuyển khoản mua ma túy vì vậy cần tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Phùng Thế H3 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đỗ Xuân B đều là công cụ mà các bị cáo sử dụng liên lạc mua bán ma túy do đó cần tịch thu, bán phát mại Ngân sách Nhà nước.

Đối với 0,3158 gam ma túy Methamphetamine và 0,1157 gam mẫu viên nén của mẫu A1; 0,3660 gam ma túy Methamphetamine của mẫu B1 cùng toàn bộ bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy mẫu trả hoàn lại sau giám định đối tượng của tội phạm, cần tịch thu tiêu hủy .

Đối với xe máy, nhãn hiệu Honda Wave mang BKS 88B1 – 166.65 là tài sản của Phùng Thế H3 không dùng để cất giấu, tàng trữ trái phép chất ma túy mà chỉ dùng làm phương tiện đi lại nên không liên quan đến tội phạm mà H3 thực hiện cần trả lại xe máy trên cho H3 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án

  1. [9] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố Đỗ Xuân B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Phùng Thế H3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Đỗ Xuân B 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/4/2024.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Phùng Thế H3 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/4/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu của Đỗ Xuân B số tiền 500.000đ trong tài khoản 9974466997 của Đỗ Xuân B mở tại Phòng G của Ngân hàng Thương mại cổ phần N, chi nhánh V2 (Lệnh phong tỏa số 509 ngày 24/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V)

Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Phùng Thế H3 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đỗ Xuân B.

Tịch thu tiêu hủy 0,3158 gam ma túy Methamphetamine; 0,1157 gam mẫu viên nén của mẫu A1; 0,3660 gam ma túy Methamphetamine của mẫu B1 cùng toàn bộ bao gói hoàn lại sau giám định.

Trả lại Phùng Thế H3 01 xe máy, nhãn hiệu Honda Wave mang BKS 88B1 – 166.65 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án .

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Phùng Thế H3, Đỗ Xuân B phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát thành phố Vĩnh Yên;
  • - Công an thành phố Vĩnh Yên;
  • - Trại tạm giam - CA Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục thi hành án Vĩnh Yên;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Việt Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 169/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger