Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

———————

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 169/2024/HS-ST

Ngày 06 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tâm – Giáo viên nghỉ hưu
  2. Bà Nguyễn Minh Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Việt Anh – Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

Ông Quách Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 157/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Dương Bá S - Sinh ngày 09/6/2009 (Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội được 14 tuổi 10 tháng 21 ngày); Nơi cư trú: Tổ D phường N, quận L, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn C (Không có tên trong giấy khai sinh); Con bà Lê Thị Thùy T; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/5/2024; Tạm giam ngày 10/5/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H; Có mặt tại phiên toà;

  2. Bàn Nguyên L – Sinh ngày 15/10/2009 (Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội được 14 tuổi 06 tháng 17 ngày); Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bàn Tài Q; Con bà Triệu Thị L1; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/5/2024; Tạm giam ngày 10/5/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H; Có mặt tại phiên toà;

- Người bị hại: Cháu Ngô Khánh H, sinh ngày 30/8/2012 ĐKHKTT tại: Số D Đường T, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên toà;

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Ngô Thị Khánh T1, sinh năm 1965 (là bác ruột của cháu Ngô Khánh H); Nơi cư trú: Số A H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên toà;

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Dương Bá S: Bà Lê Thị Thùy T, sinh năm 1987; Trú tại: Tổ D N, quận L, Thành phố Hà Nội (Mẹ đẻ bị cáo); Có mặt tại phiên toà;

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bàn Nguyên L: Ông Bàn Tài Q, sinh năm 1980; Trú tại: thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Có mặt tại phiên toà;

- Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Bùi Thị Hải L2 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H; Có mặt;

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại: Bà Lưu Thùy L3 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H; Có mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bàn Tài Q, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; Có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, cháu Ngô Khánh H - Sinh ngày 30/8/2012 (Được 11 tuổi 7 tháng) cùng bác ruột là bà Ngô Thị Khánh T1 đến trụ sở Công an phường C trình báo về việc cháu H có quan hệ tình dục với Lê Dương Bá S và Bàn Nguyên L khi cháu H chưa đủ 13 tuổi.

Căn cứ trình báo của cháu Ngô Khánh H, kết quả xác minh ban đầu và lời khai bị hại, ngày 04/5/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Dương Bá S và Bàn Nguyên L; Tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi cháu H quan hệ tình dục với S và L.

Tang vật thu giữ:

  • 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu vivo, màu xanh đen của Ngô Khánh H bên trong có 01 sim điện thoại; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung màu vàng của Lê Dương Bá S bên trong có 01 sim điện thoại; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen của Bàn Nguyên L bên trong có 01 sim điện thoại.
  • 01 (Một) chăn màu xanh hồng, in hình bông hoa ở trên, kích thước 1,5x2 cm đã qua sử dụng; 01 (Một) chăn màu vàng trắng in hình bông hoa ở trên kích thước (1,5x 2) mét đã qua sử dụng; 11 (Mười một) tấm mút xốp màu nâu, vân gỗ, kích thước (60x60) cm thu tại hiện trường tầng 2 số D Đường T, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội.

Kết luận Giám định Pháp y số 662/KLTDTE-TTPY ngày 22/5/2024 của Trung tâm P – Sở Y đối với cháu Ngô Khánh H như sau.

“ - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Khánh H tại thời điểm giám định là: Không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày gây nên.

- Tại thời điểm giám định màng trinh: Có vết rách cũ nông vị trí 4 giờ, rách cũ vị trí 7 giờ, không có vết rách mới, không có vết sây sát sưng nề bầm tím, không có vết trợt niêm mạc, lỗ màng trinh giãn rộng.

- Qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng, xác định Ngô Khánh H tại thời điểm giám định không có thai. Xét nghiệm Anti HIV, HBsAg (test nhanh D) của Ngô Khánh H: Âm tính.

- Kết luận giám định ADN số 112/24/KLGÐADN-PYHN ngày 22/5/2024 của Trung tâm P:

  • ADN nhiễm sắc thể Y thu được từ mẫu dịch âm đạo của Ngô Khánh H và mẫu quần lót gửi giám định có hiện diện ADN nhiễm sắc thể Y của Lê Dương Bá S, không trùng với ADN nhiễm sắc thể Y của Bàn Nguyên L trên các locus Y-STR phân tích được.
  • Không thu được đầy đủ dữ liệu ADN nhiễm sắc thể Y từ mẫu lau rửa vùng ngực (vú) và mẫu lau rửa bộ phận sinh dục ngoài của Ngô Khánh H nên không so sánh được với ADN nhiễm sắc thể Y của Lê Dương Bá S và Bàn Nguyên L trên các locus Y-STR đã phân tích.”

Kết luận Giám định Pháp y số 646/KLNCXH-TTPY ngày 20/5/2024 của Trung tâm P – Sở Y đối với Lê Dương Bá S như sau:

“- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Dương Bá S tại thời điểm giám định là: Không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày gây nên.

- Tại thời điểm giám định bộ phận sinh dục ngoài của anh Lê Dương Bá S phát triển bình thường, không có thương tích.

- Xét nghiệm HIV, HBsAg (test nhanh Determine) của anh Lê Dương Bá S: Âm tính.

- Kết luận giám định ADN số 109/24/KLGÐADN-PYHN ngày 20/5/2024 của Trung tâm P:

  • ADN thu được từ mẫu lau rửa bộ phận sinh dục của Lê Dương Bá S có hiện diện ADN của Ngô Khánh H trên các locus STR đã phân tích.
  • Không thu được ADN của Ngô Khánh H từ mẫu lau rửa móng tay của Lê Dương Bá S trên các locus STR đã phân tích.
  • Không thu được ADN của Ngô Khánh H và Lê Dương Bá S từ mẫu 01 chăn màu vàng trắng có in hình nhiều bông hoa gửi giám định trên các locus STR đã phân tích.
  • ADN thu được trên 01 chăn màu xanh hồng in hình bông hoa ở trên gửi giám định là ADN trộn lẫn của nhiều người, không thể dùng truy nguyên cá thể nên không so sánh được với ADN của Ngô Khánh H và Lê Dương Bá S trên các locus STR đã phân tích.”

Kết luận Giám định Pháp y số 644/ KLNCXH-TTPY ngày 20/5/2024 của Trung tâm P – Sở Y đối với Bàn Nguyên L như sau:

“- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bàn Nguyên L tại thời điểm giám định là: Không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

- Tại thời điểm giám định bộ phận sinh dục ngoài của Bàn Nguyên L không có thương tích. Lỗ miệng sáo hẹp nhẹ, không tấy đỏ, tiểu được, không chảy dịch.

- Xét nghiệm HIV, HBsAg (test nhanh Determine) của anh Bàn Nguyên L: Âm tính.

- Kết luận giám định ADN số 108/24/KLGÐADN-PYHN ngày 20/5/2024 của Trung tâm P: Không thu được ADN của Ngô Khánh H từ mẫu lau rửa bộ phận sinh dục và mẫu lau rửa kẽ móng tay của Bàn Nguyên L trên các locus STR đã phân tích."

Căn cứ vào kết quả điều tra đã xác định: Do bố mẹ đang đi chấp hành án nên cháu H và em trai là cháu Ngô Anh Q1 sống tại số D Đường T, quận H, Hà Nội không có người chăm sóc và quản lý nên cháu H không được giáo dục đầy đủ về giới tính. Qua mạng xã hội cháu H quen biết Bàn Nguyên L và Lê Dương Bảo S1 sau đó phát sinh quan hệ tình cảm. Trong hai ngày 29/4/2024 và 01/5/2024, cháu H đã quan hệ tình dục với L và S1 như sau:

  1. Đối với vụ Bàn Nguyên Lâm quan hệ tình dục với cháu H, quá trình điều tra xác định: Khoảng giữa tháng 4/2024, cháu H nhắn tin làm quen với L. Rạng sáng ngày 29/4/2024, cháu H gọi L qua khu vực đền N để đi chơi. Sau đó, do H không muốn về nhà, L chở cháu H đến nhà nghỉ T4 tại số C ngõ E T, phường N, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Tại phòng 704 của nhà nghỉ T5, L và H thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Việc quan hệ là tự nguyện, lần quan hệ ngày 29/4/2024 là lần duy nhất L quan hệ với cháu H.

    * Kiểm tra điện thoại của L có các tin nhắn giữa cháu H và L về việc nhắn tin rủ nhau đi hẹn hò, nhà nghỉ để quan hệ tình dục.

    Anh Trần Ngọc T2 (lễ tân nhà nghỉ T4) khai: Khoảng 02 giờ ngày 29/4/2024, Bàn Nguyên L điều khiển xe Honda Dream đèo cháu Ngô Khánh H đến thuê phòng 704. Do trước đó, L đã thanh toán tiền phòng nên khi L lấy phòng thì anh toàn không để ý. Xét anh T2 không biết, không liên quan đến hành vi của L nên Cơ quan điều tra không xử lý. Cơ quan điều tra cho anh T2 nhận dạng và xác định Bàn Nguyên L là người đã cùng cháu H thuê phòng tại nhà nghỉ vào ngày 29/4/2024.

    Ngày 19/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Đ có Công văn số 4718 đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận H tiếp tục điều tra giải quyết đối với bị can Bàn Nguyên L theo quy định tại khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  2. Đối với vụ Lê Dương Bá S quan hệ tình dục với cháu H, quá trình điều tra xác định: S quen cháu H từ ngày 27/4/2024 và có quan hệ yêu đương với cháu H. Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 01/5/2023, sau khi hết giờ làm, S xin cháu H cho qua nhà ngủ nhờ. Cháu H đồng ý và đưa S về nhà ở D Đường T, quận H, Hà Nội. Tại gác xép tầng 2 nhà của cháu H, S và cháu H thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Việc quan hệ là tự nguyện, lần quan hệ ngày 01/5/2024 là lần duy nhất S quan hệ với cháu H.

    Cháu Ngô Anh Q1 (em trai cháu H) khai: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 01/5/2024, cháu H có dẫn Lê Dương Bá S về nhà sau đó cả hai lên cùng lên gác xép đi ngủ. Cơ quan điều tra cho cháu Q1 nhận dạng và xác định Lê Dương Bá S là người đã cùng cháu H về nhà và ngủ lại ngày 01/5/2024.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã tiến hành phúc tra lời khai có ghi âm ghi hình, S và L đều thừa nhận đã có hành vi quan hệ tình dục với cháu H như đã nêu trên. Đã tiến hành cho S và L thực nghiệm điều tra quá trình thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu Huyền phù H1 lời khai, tài liệu Cơ quan điều tra thu thập.

Cháu Ngô Khánh H khai: Cháu H quen với L và S qua mạng xã hội Facebook. Cháu H đã quan hệ tình dục 02 lần, 01 lần với L vào ngày 29/4/2024 và 01 lần với S vào ngày 01/5/2024 phù hợp lời khai của L và S. Việc quan hệ với L và S là hoàn toàn tự nguyện. Sáng ngày 03/5/2024, H đi học tại Trường tiểu học N1 thì được cô giáo chủ nhiệm hỏi về vết bầm tím ở trên cổ nên cháu H đã kể lại cho cô nghe về sự việc trên, cô giáo sau đó đã gọi cho bác ruột của cháu H là bà Ngô Thị Khánh T1 để thông báo sự việc. Bà T1 đã đưa cháu H đến trụ sở Công an phường C để trình báo sự việc như trên. Cháu H không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Bà Ngô Thị Khánh T1 trình bày: Do bố mẹ cháu H là anh Ngô Anh T3 và chị Nguyễn Thị M đều đang đi chấp hành án phạt tù, nên bà T1 – bác ruột của cháu H đại diện gia đình cháu H làm giám hộ cho cháu H. Bà T1 yêu cầu gia đình L, S mỗi gia đình phải bồi thường 30.000.000 đồng cho cháu H.

Đối với chăn, mút xốp, Cơ quan điều tra thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường đã giám định dấu vết ADN trên vật chứng và không phát hiện dấu vết. Cơ quan điều tra đã trao trả cho bà Ngô Thị Khánh T1, bà T1 đã nhận lại tài sản.

Tại Bản cáo trạng số 149/CT-VKS ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Lê Dương Bá S và Bàn Nguyên L về tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" theo quy định tại khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự ;

Ngày 22/8/2024, ông Bàn Tài Q là bố đẻ bị cáo Bàn Nguyên L có đơn trình bày xin tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng để bồi thường cho người bị hại thay cho bị cáo L (theo Biên lai thu số 0006356 ngày 22/8/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm);

Tại phiên toà,

Các bị cáo Lê Dương Bá S và Bàn Nguyên L đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 142; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Dương Bá S, Bàn Nguyên L: Từ 30 tháng đến 36 tháng tù;
  • Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho người bị hại, bị cáo S, L điện thoại thu giữ do không liên quan đến hành vi phạm tội gồm: 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu vivo, màu xanh đen của Ngô Khánh H bên trong có 01 sim điện thoại; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung màu vàng của Lê Dương Bá S bên trong có 01 sim điện thoại; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen của Bàn Nguyên L bên trong có 01 sim điện thoại.
  • Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng.
  • Về dân sự: Do người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu nữa nên không xem xét;

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Dương Bá S là bà Lê Thị Thùy T có đơn trình bày gia đình rất khó khăn và xin tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 1.000.000 đồng thay cho bị cáo S;

Người đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Ngô Thị Khánh T1 đề nghị Tòa án xét xử các bị cáo theo đúng quy định pháp luật. Về vấn đề bồi thường thiệt hại, bà T1 trình bày không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm cho cháu Ngô Khánh H nữa, từ chối nhận số tiền 1.000.000 đồng do gia đình bị cáo S tự nguyện bồi thường thiệt hại tại phiên toà và số tiền 5.000.000 đồng do gia đình bị cáo L tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Hoàn Kiếm để bồi thường cho cháu H, không có yêu cầu gì khác.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại bà Lưu Thùy L3 phát biểu quan điểm đồng tình với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát; về hình phạt đối với các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo đúng quy định pháp luật. Về phần bồi thường thiệt hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu;

Người bào chữa cho các bị cáo, bà Bùi Thị Hải L2 phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết các bị cáo còn đang ở độ tuổi trẻ em, nhận thức về pháp luật, xã hội có phần hạn chế; thực hiện hành vi theo bản năng, theo cảm tính. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có nảy sinh tình cảm với người bị hại; các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình đều có hoàn cảnh rất khó khăn; bị cáo L là người dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn là những tình tiết giảm nhẹ để xử phạt các bị cáo những hình phạt thấp hơn hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo Bàn Nguyên L, Lê Dương Bá S đều đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng, Kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án.

Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/4/2024, Bàn Nguyên L có hành vi quan hệ tình dục 01 lần với cháu Ngô Khánh H, sinh ngày 30/8/2012 (Khi bị xâm hại, cháu H mới 11 tuổi 8 tháng) tại nhà nghỉ T4 (Địa chỉ: Số C ngõ E T, phường N, quận Đ, Thành phố Hà Nội).

Ngày 01/5/2024, Lê Dương Bá S có hành vi quan hệ tình dục 01 lần với cháu Ngô Khánh H (Khi bị xâm hại, cháu H mới 11 tuổi 08 tháng 02 ngày) tại nhà của cháu H (Địa chỉ: Số D Đường T, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội).

Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Dương Bá S và Bàn Nguyên L đã phạm vào tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm b “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi” khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý của người dưới 13 tuổi, đặc biệt đối tượng bị xâm hại tình dục là trẻ em gái là đối tượng được xã hội quan tâm và pháp luật bảo vệ, do đó cần thiết phải dành cho các bị cáo hình phạt tù, cách ly với xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo trong độ tuổi từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015 để xem xét mức hình phạt tù đối với các bị cáo;

[3] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo bị truy tố theo điểm b “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi” khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự, ngoài ra không có tình tiết tăng nặng nào theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi của mình; Về nhân thân, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, nhận thức pháp luật của các bị cáo còn hạn chế; gia đình các bị cáo tuy đều rất khó khăn nhưng đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại thay cho các bị cáo; bị cáo L là người dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn là những tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 03 sim điện thoại không xác định được số sim cần tịch thu tiêu huỷ;

Đối với 01 điện thoại kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Bàn Nguyên L, trong đó có các tin nhắn giữa L và H nhắn rủ nhau hẹn hò, nhà nghỉ để quan hệ tình dục, xét có liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 điện thoại kiểu dáng, nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng thu giữ của người bị hại cháu Ngô Khánh H và 01 điện thoại kiểu dáng, nhãn hiệu Samsung màu vàng, mặt sau điện thoại bị nứt vỡ, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Lê Dương Sơn B xét không liên quan cần trả lại cho cháu H và bị cáo S;

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Ngô Thị Khánh T1 có yêu cầu mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho cháu Ngô Khánh H. Tại phiên tòa, bà T1 trình bày không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm cho cháu Ngô Khánh H nữa. Bà T1 cũng từ chối nhận số tiền 1.000.000 đồng do gia đình bị cáo S tự nguyện bồi thường thiệt hại tại phiên toà và số tiền 5.000.000 đồng do gia đình bị cáo L tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Hoàn Kiếm để bồi thường cho cháu H, không có yêu cầu gì khác.

Xét việc không yêu cầu bồi thường của người đại diện hợp pháp của người bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên được Tòa án ghi nhận. Do đó, trả lại số tiền 5.000.000 đồng cho ông Bàn Tài Q (bố đẻ bị cáo L) đã nộp theo Biên lai thu số 0006356 ngày 22/8/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều dưới 16 tuổi. Căn cứ theo quy định tại Điều 1 Luật trẻ em và Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Các bị cáo Lê Dương Bá S và Bàn Nguyên L được miễn nộp khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Lê Dương Bá S, Bàn Nguyên L phạm tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi";
  2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 142; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91; khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
    • + Xử phạt bị cáo Lê Dương Bá S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2024.
    • + Xử phạt bị cáo Bàn Nguyên L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2024.
  3. Về xử lý vật chứng:
    • + Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, không rõ dung lượng, số Imei, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Bàn Nguyên L;
    • + Trả lại cho cháu Ngô Khánh H 01 (một) chiếc điện thoại kiểu dáng nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, không rõ dung lượng, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng;
    • + Trả lại bị cáo Lê Dương Bá S 01 (một) điện thoại kiểu dáng nhãn hiệu Samsung màu vàng, không rõ dung lượng, mặt sau điện thoại bị nứt vỡ, đã qua sử dụng;
    • (03 điện thoại trên tại thời điểm bàn giao không mở máy kiểm tra được nên không xác định được hiện trạng, chất lượng, dung lượng, Imei của máy)
    • + Tịch thu tiêu hủy: 03 sim điện thoại đã qua sử dụng không xác định số sim điện thoại;
    • Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận ngày 20/8/2024;
  4. Về trách nhiệm dân sự:

    Ghi nhận việc người đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Ngô Thị Khánh T1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại cháu Ngô Khánh H.

    Trả lại cho ông Bàn Tài Q số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên lai thu số 0006356 ngày 22/8/2024.

  5. Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 1 Luật trẻ em và Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Các bị cáo Lê Dương Bá S và Bàn Nguyên L được miễn nộp khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Bị cáo; Người đại diện hợp pháp của các bị cáo; Người bào chữa; Người đại diện hợp pháp của người bị hại; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo về phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THA DS quận Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo; Người đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - Người bị hại; Người đại diện hợp pháp của người bị hại;
  • - Trợ giúp viên pháp lý;
  • - Lu VP, HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 169/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger