|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 164/2024/HS-ST Ngày 19-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Dũng;
Ông Huỳnh Sơn Tây.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thanh T, sinh năm 1998 tại Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh T1, không rõ họ tên mẹ; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/3/2024 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh T là đối tượng sử dụng ma túy, loại ma túy T sử dụng là ma túy đá (loại Methamphetamine). T làm công nhân tại Công ty TNHH H thuộc Khu công nghiệp N mở rộng, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, tạm trú tại khu N thuộc tổ D, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 07 giờ 50 phút ngày 19/3/2024, T đang làm việc tại công ty thì nhận được điện thoại của đối tượng tên Q (không rõ lai lịch) hỏi T có mua ma túy để sử dụng không, T đồng ý. T thỏa thuận mua ma túy với số tiền 600.000 đồng và địa điểm giao ma túy tại đường H thuộc khu phố A, phường H, thành phố T thì Q đồng ý. Khoảng 8 giờ cùng ngày, T đi bộ đến địa điểm giao ma túy như đã hẹn trước đó với Q, tại đây Q đưa cho Tài ba gói ny lon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng. T cất số ma túy vừa mua được vào trong ngăn nhỏ ngoài cùng bên trái của bóp da màu đen. Sau đó T cất bóp vào túi quần phía sau bên phải đang mặc trên người. Đến khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, Công an phường H tuần tra đến đoạn Hội N phát hiện T có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện ngăn nhỏ ngoài cùng bên trái của bóp da màu đen của T có chứa ba gói ny lon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng. T khai nhận là ma túy mua cất giấu nhằm mục đích để sử dụng. Lực lượng tuần tra niêm phong đối với ma túy thu giữ của T, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ vật chứng gồm: Ba gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và một bóp da màu đen.
Công an phường H tạm giữ đồ vật liên quan gồm: Một điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh do Trần Thanh T giao nộp.
Sau đó, Công an phường H bàn giao T cùng hồ sơ vụ việc, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, thụ lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra Trần Thanh T khai: Khoảng tháng 01/2024, T có quen biết với Q thông qua mạng xã hội. Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2024 đến trước ngày 19/3/2024, T mua ma túy của Q được 04 lần, mỗi lần với giá 300.000 đồng. Vào ngày 11/3/2024, T bị mất điện thoại, T gặp Q, Q cho T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh và nói với T khi nào Q gọi T nếu muốn sử dụng ma túy thì Q sẽ bán. Q cho điện thoại nhưng không cung cấp mật khẩu cho T. Vào ngày 19/3/2024, Q điện thoại cho T để bán ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang.
Kết luận giám định số 1517/KL-KTHS (MT) ngày 25/3/2024 của Phòng K kết luận tinh thể màu trắng trong 03 gói nylon hàn kín, khối lượng 0,2327 gam, loại methamphetamine.
Cáo trạng số 200/CT-VKSTU ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Thanh T về “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Thanh T2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Một điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh là phương tiện liên lạc để mua ma túy nên đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
- Một bì thư niêm phong ký hiệu 1517/PC09 bên trong có chứa Methamphetamine nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
- Một bóp da màu đen đề nghị trả lại cho bị cáo.
Bị cáo Trần Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về nội dung vụ án:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thanh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Ngày 19/3/2024 tại đoạn đường H khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Trần Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,2327 gam loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn ma tuý tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi bị Nhà nước nghiêm cấm và có chế tài nghiêm khắc đối với hành vi này nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân, coi thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện. Do đó, để có tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời, nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung trong xã hội, xét thấy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: Một điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh.
- - Tịch thu, tiêu hủy: Một bì thư niêm phong ký hiệu 1517/PC09 bên trong có chứa Methamphetamine.
- - Trả lại cho bị cáo một bóp da màu đen.
[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 19/3/2024.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: Một điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh.
- - Tịch thu, tiêu hủy: Một bì thư niêm phong ký hiệu 1517/PC09 bên trong có chứa Methamphetamine.
- - Trả lại cho bị cáo một bóp da màu đen.
- (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Mỹ Trúc |
Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 164/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy Trần Thanh T
